|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2025/HS-ST
Ngày 18-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | Bà Vũ Thiên Hương |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Quang Hiển |
| Bà Nguyễn Thị Nga |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bùi Anh T, sinh năm 1986 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Tổ A, phường S, quận L, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Số A V, tổ B, phường S, quận L, thành phố Hà Nội (Nay là Tổ A phường P, quận L, thành phố Hà Nội); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Bùi Ngọc Á (sinh năm 1960, đã chết); Họ và tên mẹ: Khúc Thị X, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Thanh H; Sinh năm 1988; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 560, lập ngày 08/11/2024 của Công an huyện G, TP Hà Nội) không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. “Có mặt”.
Người bào chữa: Ông Chu Đ sinh năm 1960, ông Chu Huy H1 sinh năm 1979 – luật sư Văn phòng L2, địa chỉ: Số F ngõ H Chùa H, phường Q, quận C, Hà Nội. “Ông H1 có mặt”
2. Nguyễn Duy Đ1, sinh năm 1983 tại Thái Bình; ĐKHKTT: Phòng 310, Tòa V, khu đô thị Đ, xã C, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi ở từ 2023 đến khi bị bắt: Đường B Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bắc Ninh. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Bùi Thị O, sinh năm 1958; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Nguyễn Thu T1, sinh năm 1990 (đã ly hôn 2018); Có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 549, lập ngày 06/11/2024 của Công an huyện G, TP Hà Nội) Không.
Nhân thân: Bản án số 309/HSST ngày 25/11/2011, TAND quận Ba Đình, Hà Nội xử 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm”. Ngày 30/8/2013 được đặc xá.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Ngọc T2, sinh năm 1959 và bà Đinh Thị Nguyên S năm 1993 – cùng là luật sư của Công ty L3, địa chỉ liên hệ: Số E, đường A, Sunrise C, KĐT T, phường Đ, quận H, Hà Nội. “Bà N1 có mặt”
3. Đào Xuân B, sinh năm 1993 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A, phường C, quận L, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Đào Ngọc M, sinh năm 1973; Họ và tên mẹ: Lê Thị X1, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Tăng Kim T3, sinh năm 1994; Có 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 680, lập ngày 24/4/2025 của Trại tạm giam T5, Bộ C2): 01 tiền án.
- Bản án số 273/2023/HSST ngày 29/9/2023 của TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử 08 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam T6 – Bộ C2. “Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
4. Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 2000 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi ở từ tháng 01/2025 đến khi bị bắt: Thôn Đ, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Họ và tên cha: Nguyễn Anh L, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: (Theo danh chỉ bản số 145, lập ngày 11/3/2025 của Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H):Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. “Có mặt”.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đoàn Thị M1, sinh năm 2003; HKTT: Đội 3, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Số A H, Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
- Anh Trần Văn M2, sinh năm 1993; Nghề nghiệp: tự do; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. “Có mặt”.
*Người làm chứng:
- Chị Nông Trịnh Hồng N2, sinh năm 2006; Nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng. “Vắng mặt”.
- Chị Lù Thị Hoài L1, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Tổ I, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2022, Đào Xuân B có thuê Nhà trọ 02 tầng 01 tum ở khu vực T, L, Hà Nội để ở. Sau đó B là người thuê Đoàn Thị M1, Nông Trịnh Hồng N2 đi bấm bài, rót bia cho khách tại các quán Karaoke và đi sử dụng ma tuý với khách, vỗ phê cho khách theo phân công của B. M1 và N2 đồng ý và thỏa thuận phục vụ bấm bài, rót bia cho khách tại các quán Karaoke thì mỗi ca 01 tiếng khách sẽ phải trả 270.000 đồng, trong đó N2 và M1 mỗi người được hưởng 210.000 đồng còn lại đưa cho B 60.000 đồng; Nếu M1 và N2 đi “bay”, “xập” (phục vụ và sử dụng ma túy với khách), thì mỗi ca 01 tiếng khách sẽ phải trả 300.000 đồng/người, trong đó N2 và M1 được hưởng 200.000 đồng còn lại đưa cho B 100.000 đồng. Còn Q nhiệm vụ chở M1 và N2 đến các địa điểm phục vụ khách và đón M1 và N2 về được B bao ăn và ở luôn phòng trọ B đã thuê;
Đến đầu năm 2023, Q được B giao thêm nhiệm vụ trực điện thoại, nhận yêu cầu của khách và điều (phân công) nhân viên nữ đi làm, Q được B chia cho số tiền bằng 20% số tiền B thu được từ nhân viên nữ. Để điều hành hoạt động nêu trên, B thuê số điện thoại 0704.125.xxx của anh Trần Văn M2, sinh năm 1993, trú tại: T, Đ, G, Hà Nội, để khách liên lạc với B qua số điện thoại trên, sau đó B điều nhân viên nữ đi phục vụ khách.
Khoảng 23 giờ ngày 21/8/2022, T đến quán Bar tại số F, Phó Đức C, Trúc B1 uống rượu có quen một người không rõ nhân thân tên là C1 nhà ở Thái Nguyên. Sau đó T cùng C1 uống rượu. Đến khoảng 01 giờ ngày 22/8/2022, quán Bar N, thì C1 nói có ma túy “Keo”, “ke”, rủ T đi sử dụng thì T đồng ý. T sử dụng số điện thoại 0382.786.xxx gọi đến số điện thoại 0977.771.xxx của Đ1 hỏi “anh đang làm gì” thì Đ1 nói “đang chơi cùng bạn gái” nên T xin Đ1 cho T và C1 đến P, Tòa D, khu đô thị Đ của Đ1 để sử dụng ma túy thì Đ1 đồng ý. Khi T và C1 đến căn hộ B, Tòa D khu đô thị Đ, thì Đ1 ra mở cửa trong phòng có Lù Thị Hoài L1, sinh năm 2005, trú tại: Tổ I, phường N, thành phố H, Hà Giang (là bạn Đ1) đang nằm ngủ trên giường. Đ1 bảo T chải đệm xuống sàn cạnh giường. Sau đó T quay ra phòng khách thấy có mấy lon bia trên bàn, T và C1 uống bia, trong khi uống bia C1 bảo T gọi gái dịch vụ đến sử dụng ma túy cùng và vỗ phê cho T và C1, thì T đồng ý.
Do biết Đào Xuân B quản lý gái dịch vụ nên T sử dụng số điện thoại 0382.786.xxx của T gọi đến số điện thoại 0704.125.xxx của B bảo hỏi B “ có nhân viên không điều cho 02 nhân viên nữ đến khu đô thị Đ để “Bay” “Xập” (phục vụ và sử dụng ma túy) cùng T”, thì B nói “nhân viên đi làm hết không còn”. Khoảng 10 phút sau B sử dụng điện thoại 0704.125.xxx gọi vào số điện thoại 0382.786.xxx của T và hỏi “Nhân viên đi làm về rồi, em cần nữa không, để anh điều cho” thì T bảo B điều cho T 02 nhân viên nữ, B đồng ý. Tại thời điểm này B đang ngồi ăn đêm cùng Q nên B bảo Q gọi điện thoại bảo M1 và N2 đi đến khu đô thị Đ “Bay” “Xập”, thì Q sử dụng số điện thoại 0393.590.xxx gọi đến số 0342959101 của Đoàn Thị M1 bảo M1 cùng Nông Trịnh Hồng N2 đến khu đô thị Đ, G, Hà Nội để đi làm "xập", "bay" (tức là đi sử dụng ma tuý với khách). Sau đó, B đọc số điện thoại 0382.786.xxx của T cho Q để Q nhắn tin gửi số điện thoại của T cho M1, để M1 liên hệ gặp T phục vụ việc sử dụng ma tuý. M1 đồng ý và gọi điện cho N2 bảo N2 biết, để N2 về đi làm cùng M1. Sau đó M1 và N2 bắt taxi đi làm, M1 gửi số điện thoại 0382.786.xxx của T cho N2 để N2 kết bạn Z với T và T gửi vị trí Toà D9 khu đô thị Đ cho N2. Sau đó M1 và N2 đi taxi đến Tòa D khu đô thị Đ, N2 bảo T xuống đón thì T đứng tại tầng 2 của Toà D9 vẫy tay gọi M1 và N2 lên căn hộ B Tòa D khu đô thị Đ. Khi vào phòng khách căn hộ không bật đèn nhưng trong phòng ngủ có bật đèn nháy, đèn hình, bật nhạc to, trên đệm có 01 đĩa sứ bên trên đĩa đựng ma tuý ketamin, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng được cuộn tròn và 01 thẻ ngân hàng; Đ1 và L1 đang nằm trên giường còn C1 nằm ở dưới đệm. M1 và N2 ngồi xuống đệm thì C1 ngồi dậy đưa cho T 01 viên ma túy “kẹo”, T bẻ viên ma túy làm đôi rồi đưa M1 và N2 mỗi người một nửa viên ma túy "kẹo" để M1 và N2 uống cùng nước côca. Sau đó M1, N2 và C1 cùng nhau sử dụng ma tuý ketamin. Sau khi sử dụng ma tuý ketamin xong, M1 nằm ôm T dùng tay vỗ vào người T để tạo cảm giác "phê" cho T. N2 nằm ôm C1 để vỗ phê cho C1. Một lúc sau, C1 bảo mọi người dậy để tiếp tục sử dụng ma tuý ketamine, C1 đổ ma túy ketamine từ trong túi nilon vào đĩa, Đ1 dậy cầm đĩa ma túy này cho vào lò vi sóng để làm nóng, sau đó Đ1 dùng thẻ ngân hàng xào ma tuý và kẻ thành các đoạn thẳng rồi đưa lên mũi giả vờ sử dụng, sau đó đưa cho C1, M1, N2 sử dụng ma tuý, còn T không sử dụng. Sau đó Đ1 lên giường nằm cùng L1, còn T, M1, N2 và C1 tiếp tục nằm ngủ dưới đệm. Một lúc sau, L1 dậy đi vệ sinh, thấy có đĩa ma túy nên L1 cầm đĩa ma tuý ketamin mang lên giường sử dụng xong tiếp tục nằm ngủ cùng Đ1. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày C1, T, N2 và M1 tỉnh dậy, thì C1 bảo T cho N2 đi về trước, T bảo N2 đi về, N2 đồng ý. Trước khi đi về, N2 bảo T thanh toán tiền thì T chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ số tài khoản 030886888 ngân hàng VIB của T vào số tài khoản 0946252731 ngân hàng M3 của Nông Trịnh Hồng N2. Sau khi N2 về thì T có đặt vấn đề quan hệ tình dục với M1, thì M1 đồng ý. Sau đó T và M1 ra ghế sofa ở phòng khách quan hệ tình dục với nhau. Sau khi quan hệ tình dục xong T và M1 đi vào phòng ngủ nằm ngủ trên đệm. Khoảng 30 phút sau, T tỉnh dậy và gọi M1 dậy và báo với M1 là T đi về trước để chuẩn bị đi làm, T bảo M1 đọc số tài khoản ngân hàng của M1 để T chuyển tiền trả cho M1, M1 đọc số tài khoản của M1 cho T. Sau đó T đi về, còn M1 tiếp tục nằm ngủ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày Mai tỉnh dậy, M1 thấy mình nằm trên đệm cùng C1, còn Đ1 và chị L1 vẫn nằm trên giường. Thấy chưa được thanh toán tiền công, nên M1 hỏi
Đ1 ai là người thanh toán tiền cho M1 thì Đ1 nói T sẽ thanh toán tiền cho M1. Sau đó, M1 cùng C1 đi taxi về L, khi đến khu vực Aeon L thì C1 xuống xe còn M1 đi taxi về phòng trọ. Đến 08 giờ 07 phút ngày 22/8/2022, T chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ số tài khoản 030886888 ngân hàng VIB của T vào số tài khoản 19037841780010 ngân hàng T7 của Đoàn Thị M1 để thanh toán tiền công phục vụ sử dụng ma túy và quan hệ tình dục cho M1. Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Duy Đ1, Bùi Anh T, Nguyễn Hoàng Q phù hợp với lời khai của những người liên quan: Đoàn Thị M1, Nông Trinh H và Lù Thị Hoài L1, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa bị cáo Đào Xuân B có đơn xin xử vắng mặt, tại cơ quan điều tra B khai nhận có lúc chưa phù hợp nhưng lời khai sau cùng khi VKS lấy lời khai và bản tự khai khi có đơn xin xử vắng mặt thì B khai nhận có chỉ đạo Q gọi điện cho M1 và N2 về đi sử dụng ma túy với T.
Tại bản kết luận giám định số 6268 ngày 13/9/2022 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
- - 05 túi nilông (thu tại phòng ngủ) đều có dính ma túy loại Ketamine;
- - 01 túi nilông (thu tại phòng khách) có dính ma túy loại Ketamine.
- - 01 thẻ ngân hàng V, số thẻ 4129756965662690 có dính ma túy loại Ketamine;
- - 01 thẻ Member card, số thẻ: 1001001624926888 có dính ma túy loại Ketamine.” (BL số 186).
Tại bản kết luận giám định số 7860 ngày 22/11/2022 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
“01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 25cm không dính chất ma túy” (BL số 197).
Bản cáo trạng số 88/CT-VKSGL ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Đào Xuân B và Nguyễn Hoàng Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Bị cáo T, Đ1 và Q khai đúng như bản cáo trạng, không khai báo bổ sung gì thêm
- + Bị cáo B có đơn xin xử vắng mặt, có bản tự khai ngày 09/6/2025 thừa nhận hành vi đúng như bản cáo trạng truy tố.
- + Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm giữ nguyên quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với lời khai của các bị cáo T, Đ1, Q và B; Tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Đào Xuân B và Nguyễn Hoàng Q có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo T khởi xướng, bị cáo Đ1 thực hành, bị cáo Q và B giúp sức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS
- - Các Điều 17, 58, 38, 47, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
- - Điểm t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS với 3 bị cáo Đ1, T, Q
- - Các Điều 55, 56, 104 BLHS với bị cáo B
- - Điều 106 BLTTHS
Xử phạt các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Nguyễn Hoàng Q từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ 05/11/2024 với bị cáo Đ1, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024 với bị cáo T, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025 đối với bị cáo Q.
Xử phạt bị cáo Đào Xuân B từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 8 năm tù tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Bản án số 273/2023/HSST ngày 29/9/2023 của TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung cho hai bản án là 15 năm đến 15 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2023.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên đề nghị không áp dụng.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- + 06 túi nilon kích thước 2x3cm
- + 01 Đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính 25cm.
- + 01 thẻ ngân hàng V, số thẻ 4129756965662690 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1
- + 01 thẻ Member card, số thẻ: 1001001624926888 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1.
- + 30 bóng cao su thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1
- + 01 chiếc sooc bò màu đen, 01 quần lót nữ màu đen thu giữ của chị M1, sau khi giám định đã trả chị M1, HĐXX không xem xét giải quyết.
Sau khi VKS luận tội, các bị cáo không bào chữa gì cho mình
Anh M2 không tranh luận gì.
Luật sư của các bị cáo bào chữa cho các bị cáo như sau:
- + Ông Hoàng: Nhất trí về tội danh, hình phạt, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS VKS đã đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét thêm hôm đó vợ chồng bị cáo T mâu thuẫn với nhau, bị cáo T chưa bao giờ sử dụng ma túy, do C1 rủ, bị cáo T bố mất sớm, có mẹ già, 2 con nhỏ, trước có công việc là cán bộ ngân hàng có công việc ổn định nhưng nay đã nghỉ việc từ khi bị bắt, nay vợ đang nuôi mẹ già và 2 con nhỏ, vợ bị cáo có nhiều Giấy khen trong quá trình công tác tại Bộ N3, đề nghị xử bị cáo mức án dưới khung nhưng thấp hơn phần đề nghị của VKS.
- + Bà N1: Tôi nhất trí với đề nghị của VKS về tội danh, về hình phạt với bị cáo Đ1. Đề nghị HĐXX xem xét thêm cho bị cáo Đ1 là người rất tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, bị cáo không rủ người vào sử dụng ma túy, và bị cáo không thu lợi gì từ việc đó, vì nể nang bạn bè cho vào ngủ nhờ rồi họ sử dụng ma túy, bị cáo đầu thú, bị cáo tích cực chở chị L1 đến cơ quan điều tra khai báo, bố bị cáo là thương binh nặng, gia đình có công với cách mạng, hiện mất sức 61%, bị cáo đã từng đi bộ đội, bị cáo hiến máu 12 lần, bị cáo đã ly hôn và nuôi con nhỏ, đề nghị xử phạt bị cáo từ 4-5 năm tù.
VKS không tranh luận đối đáp gì vì phần đề nghị của các luật sư đã được VKS xem xét đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về việc vắng mặt chị M1, chị N2, chị L1, bị cáo B tại phiên tòa: Xét thấy phiên tòa lần đầu chị M1, chị N2, chị L1 vắng mặt không có lý do, bị cáo B có đơn xin vắng mặt và đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra, căn cứ vào Điều 290, 292, 293 BLTTHS, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
[3]. Về hành vi phạm tội: Xét ngày 22/8/2022 chị Đoàn Thị M1 có đơn trình báo về việc hơn 1 giờ ngày 22/8/2022 anh T có gọi điện cho chị đến tòa D khu đô thị Đ, G, Hà Nội để phục vụ sử dụng ma túy, khi đến nơi chị bị anh T hiếp dâm. Quá trình giải quyết đơn và sau khởi tố lời khai của những người liên quan thể hiện: T có gọi điện cho B để B cho nhân viên nữ đi sử dụng ma túy với T, B đã chỉ đạo Q điện thoại cho M1 và N2 đi sử dụng ma túy cùng T tại khu đô thị Đ, B cho Quân số điện thoại của T để Q gửi cho N2, N2 liên lạc với T lấy định vị vị trí, N2 và M1 gọi G đến khu đô thị Đ như định vị T gửi, T đón M1 và N2 lên phòng B tòa nhà D khu đô thị Đ. Khi vào phòng, M1 ngồi với T, N2 ngồi với C1, trong phòng đã có Đ1 và L1 đang ngủ trên giường. Sau đó T đưa cho N2 và M1 mỗi người nửa viên kẹo và lon coca để uống, M1 và N2 vỗ vai lưng cho T và C1 để tăng cảm giác phê ma túy. Từ khoảng 2 giờ đến 5h ngày 22/8/2022, T có gọi Đông dậy sử dụng ma túy, Đ1 dậy đi hơ nóng đĩa, dùng thẻ nghiền ke, xào K và sử dụng K, Đ1 có gọi L1 dậy sử dụng Ke xong lại đi ngủ, cũng trong thời gian này, T có quan hệ tình dục với M1, đến hơn 5h T về đi làm, M1 tỉnh dậy thì tiếp tục quan hệ tình dục với C1.
Nên đủ cơ sở kết luận từ 2 giờ đến 5 giờ ngày 22/8/2022, các bị cáo T, B, Q, Đ1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho M1, N2, L1 cùng sử dụng. Bị cáo B và Q có hành vi sắp xếp, bố trí cho M1 và N2 đến để sử dụng ma túy cùng T để được hưởng lợi 100.000 đồng/giờ từ số tiền M1 và N2 được hưởng 300.000 đồng/giờ; Bị cáo Đ1 có hành vi sử dụng nhà thuộc quyền quản lý của mình cho T, C1, N2, M1, L1 sử dụng ma túy, Đ1 còn hơ nóng đĩa, nghiền ke, xào ke cho mọi người sử dụng, T là người khởi xướng, bỏ ma túy ra cho mọi người sử dụng, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho từ 2 người trở lên và cho người chưa đủ 18 tuổi theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS
Quá trình giải quyết đơn và sau khi khởi tố, bị cáo B, T luôn chối tội, nhưng căn cứ vào lời khai của T và Q đủ cơ sở kết luận T có điện thoại cho B, B có chỉ đạo Q điều M1 và N2 đi sập, bay tức là đi sử dụng ma túy; Với T chối tội không nhận có sử dụng ma túy, căn cứ vào lời khai của M1 và N2 thể hiện T là người đưa ma túy kẹo và coca cho M1 và N2 dùng, T là người lấy ma túy trong ngăn kéo ra đợt 2 để tiếp tục dùng đợt 2, căn cứ vào lời khai của Đ1 và L1 đều thể hiện khi đang ngủ thì tỉnh và thấy T, C1, M1, N2 sử dụng ma túy vì thấy đĩa ma túy, tiền cuộn làm ống hút trên nệm ở trong phòng ngủ và mọi người đang nằm phê trên nệm thì biết mọi người đang sử dụng ma túy, phù hợp với lời khai của B và Q là T gọi điện cho B điều gái đi sập đi bay tức là đi phục vụ người sử dụng ma túy, nên đủ cơ sở kết luận hành vi của B và T mặc dù các bị cáo không nhận tội. Tuy nhiên khi chuẩn bị kết thúc điều tra và bản tự khai trước khi xét xử, bị cáo B đã khai nhận chính xác hành vi của mình là T gọi điện cho bị cáo để điều gái đi sập, bị cáo chỉ đạo Q gọi M1 và N2 đi, bị cáo T tại phiên tòa thừa nhận có dùng ma túy như lời khai của những người khác, ma túy của bị cáo là do C1 đưa, tuy nhiên không làm rõ được nhân thân của C1 nên T phải chịu trách nhiệm đối với số ma túy T đưa cho M1 và N2 sử dụng, cũng như số ma túy lần 2 T đưa ra.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là sự quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây mất ổn định trật tự xã hội, là nguồn cơn lôi kéo nhiều thanh niên mới lớn vào sử dụng chất cấm, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần cho 1 bộ phận thanh niên, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo T vai trò khởi xướng, bị cáo Đ1 vai trò thực hành, bị cáo B, Q vai trò giúp sức.
* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về nhân thân: bị cáo Đ1 nhân thân có 1 tiền án Tòa Ba Đ2 xử 5 năm về tội Chứa mại dâm ngày 25/11/2011, ra trại ngày 23/8/2013, đến nay đã được xóa theo luật, thể hiện nhân thân xấu.
Với bị cáo B, hành vi này xảy ra 22/8/2022 đến nay mới xử, sau đó ngày 09/2/2023 bị cáo tiếp tục có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tòa án L, TP Hà Nội xử phạt 8 năm tù ngày 29/9/2023, hiện đang thi hành án tại trại giam T6, không tính tái phạm nhưng thể hiện có 1 quá trình liên tiếp phạm tội.
* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đ1 khai ra hành vi sử dụng ma túy của bị cáo T, bị cáo Q khai ra hành vi B chỉ đạo Q chỉ đạo bị cáo gọi M1 - N2 đi sử dụng ma túy với khách, bị cáo T đến nay đã khai nhận ra hành vi của mình giúp cho việc xét xử vụ án được thuận lợi là tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS;
- + Các bị cáo Đ1 và Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T và B về cơ bản thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
- + Bị cáo T và Q phạm tội lần đầu, vợ bị cáo T có nhiều Giấy khen, bố bị cáo Đ1 là thương binh, bị cáo Đ1 đầu thú và từng phục vụ trong quân ngũ 7 năm 6 tháng, khi bị cáo làm tại Bệnh viện H3 đã từng có 12 lần hiến máu trong đó có 2 lần hiến máu trực tiếp cứu sống người bệnh là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét 3 bị cáo T, Q, Đ1 đều có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, cho các bị cáo được hưởng Điều 54 BLHS xử phạt mức án dưới khung là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Bị cáo Đ1 và Q có vai trò ngang nhau nên có mức hình phạt ngang nhau, nhưng vì bị cáo Đ1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS hơn bị cáo Q, nên cho bị cáo Đ1 mức án thấp hơn bị cáo Q là thể hiện đúng tinh thần nhân văn của pháp luật.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với 4 bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án:
- + 01 Đĩa sứ màu trắng là vật sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội cho tịch thu tiêu hủy.
- + 06 Túi nilông màu trắng kích thước (2x3) cm đều dính ma túy loại Ketamine là vật nhà nước cấm lưu hành, cho tịch thu tiêu hủy.
- + 01 thẻ ngân hàng V số thẻ 4129756965662690 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1 là vật sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội cho tịch tiêu hủy.
- + 01 thẻ Member card, số thẻ: 1001001624926888 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1 là vật sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội cho tịch thu tiêu hủy.
- + 01 chiếc sooc bò màu đen, 01 quần lót nữ màu đen thu giữ của chị Đoàn Thị M1, sau khi đi giám định về đã trao trả chị M1, HĐXX không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Các bị cáo T, Đ1, B và Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326 quy định về án lệ phí Tòa án.
[7]. Phần bào chữa của luật sư cho các bị cáo trùng với quan điểm của VKS đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo nên được chấp nhận, HĐXX đã xem xét đầy đủ toàn diện cho các bị cáo.
[8]. Về những vấn đề khác:
- + Theo bị cáo T khai: Nguồn gốc ma túy loại Ketamine là của C1 quê Thái Nguyên đã rủ T sử dụng và T bẻ viên ma túy đưa M1 và N2 mỗi người một nửa viên ma túy "kẹo" để M1 và N2 uống cùng nước côca ngày 22/8/2022 tại căn hộ của Đ1, do không xác định được nhân thân của C1 nên không có căn cứ để xử lý, HĐXX không xem xét giải quyết.
- + Đối với anh Trần Văn M2 cho bị cáo Đào Xuân B thuê số điện thoại 0704.125.xxx để sử dụng nhưng anh M2 không biết việc B sử dụng số điện thoại 0704.125.xxx để thực hiện hành vi phạm tội, HĐXX không xem xét giải quyết đối với anh M2 là có căn cứ.
- + Đối với Đoàn Thị M1, Nông Trịnh Hồng N2, Lù Thị Hoài L1 qua điều tra xác định ngày 22/8/2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hiệu xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên không xử phạt vi phạm hành chính đối với M1, N2 và L1 là có căn cứ.
- + Đối với chị Đoàn Thị M1 trình báo ngày 22/8/2022 bị cáo Bùi Anh T có hành vi Hiếp dâm chị M1 tại căn hộ B, tòa D, khu đô thị Đ, Đ, G, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo T và chị Đoàn Thị M1 đối chất nhưng bị cáo T khai M1 đồng ý cho T quan hệ tình dục. Ngoài lời khai của chị M1, không có tài liệu chứng cứ nào khác, đến nay không chứng minh được T phạm tội Hiếp dâm nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh
Tuyên bố:
Các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Đào Xuân B và Nguyễn Hoàng Q cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. -
Về hình phạt, căn cứ:
- - Điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS;
- - Các Điều 17, 58, 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
- - Điểm t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS với 3 bị cáo Đ1, T, Q;
- - Các Điều 55, 56, 104 BLHS với bị cáo B.
- + Bị cáo Bùi Anh T 5 (Năm) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Bị cáo Nguyễn Duy Đ1 5 (Năm) năm 2 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
- + Bị cáo Đào Xuân B 7 (Bảy) năm tù. Tổng hợp với 8 năm tù tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Bản án số 273/2023/HSST ngày 29/9/2023 của TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo B phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2023.
- + Bị cáo Nguyễn Hoàng Q 5 (Năm) năm 3 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 Đĩa sứ màu trắng, đường kính 25cm.
- + 06 Túi nilông màu trắng kích thước (2x3) cm đều dính ma túy loại Ketamine
- + 01 thẻ ngân hàng V, số thẻ 4129756965662690 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1
- + 01 thẻ Member card, số thẻ: 1001001624926888 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy Đ1
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 4 bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Đào Xuân B, Nguyễn Hoàng Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
Báo cho bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Duy Đ1, Đào Xuân B, Nguyễn Hoàng Q và anh Trần Văn M2 có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Báo cho chị Đoàn Thị M1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Vũ Thiên Hương |
Bản án số 92/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 92/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Anh T SN 1986; Nguyễn Duy Đ1 SN 1983
