TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2025/HS-ST Ngày: 11/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Anh Thư.
- Bà Hồ Bích Ngọc.
- Thư ký phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm – Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Cao Thị Mỹ T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Minh P – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Hoàng N - Kiểm sát viên.
- + Tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vụ án hình sự thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Minh C, giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2000. Tại tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Trương Minh L, sinh năm: 1970. Con bà: Đàm Thị K, sinh năm: 1972. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 23/4/2025 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến nay.
1
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam C- Phân trại tạm giam khu vực Quận A.
Người bị hại: Ông Trương Võ Duy L1, sinh năm: 1994 – (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B P, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đăng K1, sinh năm: 1992– (vắng mặt);
Địa chỉ: C B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. - Ông Lê Minh H1, sinh năm: 1966– (vắng mặt);
Địa chỉ: 6 C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bà Võ Ngọc T1, sinh năm: 1971– (vắng mặt).;
Địa chỉ: ấp chợ A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người làm chứng: Ông Đặng Phước L2 - (Vắng mặt).
Địa chỉ: C L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 22/4/2024, Trương Minh C đi bộ từ đường C vào đường B. Khi đến cửa hàng C1, số C B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, C vào bên trong cửa hàng để mua nước uống và ngồi uống nước (mặt hướng ra đường). Trong lúc ngồi uống nước, C nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ, đen, biển số 63B1 - 356.15 của ông Trương Võ Duy L1 đậu ở sát lề đường (đầu xe hướng ra đường), không khóa cổ và không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, lợi dụng không có ai để ý, C đi ra khỏi cửa hàng đến sát chiếc xe rồi ngồi lên xe dùng hai chân đẩy xe xuống lòng đường, sau đó xuống xe dẫn bộ nhanh chóng tẩu thoát theo hướng đường B ra đường C. Cảnh đẩy xe đến khu vực ngã 6 P, phường B, Quận A thì thấy tiệm sửa khóa H1 ở lề đường trước số A L, phường B, Quận A có một người đàn ông (Cảnh không rõ lai lịch, không nhớ đặc điểm nhận dạng) sửa khóa nên C đẩy xe đến làm chìa khóa mới với giá 130.000 đồng. Sau đó, C chụp ảnh xe mô tô vừa trộm được (không chụp biển số xe) rồi sử dụng tài khoản Facebook Messenger của C tên "Minh T2" để đăng bán xe trên các nhóm mua bán xe không giấy tờ trên mạng xã hội Facebook. Sau đó, có một người sử dụng tài khoản Facebook tên "Trần Đăng K1 (Cầm đồ Lộc P1)" yêu cầu C liên hệ để trao đổi. Sau đó, C dùng ứng dụng M để nhắn tin với Trần Đăng K1 rồi mang xe đến cửa hàng cầm đồ số C B, phường B, quận B cầm xe cho K1 với giá 6.400.000 đồng.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Trương Võ Duy L1 đến Công an phường B, Quận A trình báo vụ việc. Công an phường B, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q thụ lý.
Kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Quận A, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ, đen, biển số 63B1 356.15, số khung: 4619EY378949, số máy: F46E-5078984, đã qua sử dụng, trị giá 15.333.000 đồng.
2
Tại Cơ quan Điều tra, Trương Minh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, số tiền bán xe Cảnh đã tiêu xài cá nhân hết.
Cơ quan Điều tra đã tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng của Trần Đăng K1, số A mở tại Ngân hàng V thể hiện K1 đã chuyển số tiền 6.400.000 đồng vào tài khoản cá nhân của Trương Minh C số 18010000168760 mở tại Ngân hàng B vào ngày 22 và 23/4/2024.
Quá trình điều tra, Trương Minh C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của C phù hợp với biên bản xác định địa điểm, biên bản tạm giữ đồ vật và xác nhận bản ảnh của C đối với vật chứng thu giữ; hình ảnh camera, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất, sao kê tài khoản ngân hàng, kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Điều tra thu thập.
Tại Bản cáo trạng số: 107/CT-VKS-Q1 ngày 13/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Trương Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản xác định địa điểm, biên xác nhận bản ảnh, lời khai của người bị hại, người làm chứng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vụ án không có đồng phạm.
Về nhân thân: Ngày 11/9/2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 23/4/2025 chấp hành xong án phạt tù. Do hành vi “Trộm cắp tài sản” tại quận T xảy ra sau hành vi tại Quận A nên lần phạm tội này không áp tình tiết “Tái phạm” cho bị cáo. Hành vi nêu trên của Trương Minh C đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" thuộc trường hợp "trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ bị cáo không có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Minh C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo không có nơi cư trú ổn định, không có việc làm ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ, đen, biển số 63B1 - 356.15, số khung: 4619EY378949, số máy: F46E-5078984, đã qua sử dụng. Hiện Cơ quan Công an đã thu hồi và trả lại cho ông Trương Võ Duy L1.
3
Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường nên đề nghị không xem xét.
Vật chứng vụ án, thu giữ được của Trương Minh C: Đối với 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh Trương Minh C trộm cắp tài sản tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Buộc Trương Minh C nộp lại số tiền 6.400.000 đồng, là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.
Đối với Trần Đăng K1, khai không quen biết từ trước và không có mối quan hệ gì với Trương Minh C. K1 không biết chiếc xe mô tô trên do C thực hiện hành vi phạm tội mà có. K1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Điều tra để trả lại tài sản cho bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý đối với K1 là có cơ sở.
Đối với ông Lê Minh H1 (sinh năm: 1966; HKTT: 63/4/48 C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) làm nghề sửa khóa tại số A L, phường B, Quận A khai không quen biết Cảnh, do C nói là mất chìa khóa nên ông H1 làm lại chìa khóa xe cho C và thu tiền công. Ông H1 không biết xe mô tô trên do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý đối với H1 là có cơ sở.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội, kết luận định giá tài sản... nên có đủ căn cứ, kết luận: Vào ngày 22/4/2024, tại trước cửa hàng C1, số C B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Minh C có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ, đen, biển số 63B1 - 356.15 của ông Trương Võ Duy L1, trị giá 15.333.000 đồng đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, vụ án không có đồng phạm bị cáo C là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trật an tại địa phương.
4
[4]. Về nhân thân của bị cáo: Ngày 11/9/2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 23/4/2025 chấp hành xong án phạt tù. Do hành vi “Trộm cắp tài sản” tại quận T xảy ra sau hành vi tại Quận A nên lần phạm tội này không áp tình tiết “Tái phạm” cho bị cáo. Về tiền án, tiền sự: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự 2015 xem xét giảm một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[6]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét, tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo và ý kiến đề nghị kiểm sát viên nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
Về trách nhiệm dân sự:
01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ, đen, biển số 63B1 - 356.15, số khung: 4619EY378949, số máy: F46E-5078984, đã qua sử dụng. Hiện Cơ quan Công an đã thu hồi và trả lại bị hại cho ông Trương Võ Duy L1. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường nên đề nghị không xem xét.
Đối với 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh Trương Minh C trộm cắp tài sản nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Buộc Trương Minh C nộp lại số tiền 6.400.000 đồng, là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.
Đối với Trần Đăng K1, khai không quen biết từ trước và không có mối quan hệ gì với Trương Minh C. K1 không biết chiếc xe mô tô trên do C thực hiện hành vi phạm tội mà có. K1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Điều tra để trả lại tài sản cho bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý đối với K1 là có cơ sở.
Đối với ông Lê Minh H1 (sinh năm: 1966; HKTT: 63/4/48 C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) làm nghề sửa khóa tại số A L, phường B, Quận A khai không quen biết Cảnh, do C nói là mất chìa khóa nên ông H1 làm lại chìa khóa xe cho C và thu tiền công. Ông H1 không biết xe mô tô trên do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý đối với H1 là có cơ sở.
[8]. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và các đương sự khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2025.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Buộc Trương Minh C nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.400.000 đồng (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính. - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Tiếp tục lưu giữ 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh Trương Minh C trộm cắp tài sản trong hồ sơ vụ án.
- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
- Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TAND QUẬN 1 TGW110625.TL.QDBA 11043 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Hoàng Vương |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Minh Hoàng Vương
7
8
Bản án số 92/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 92/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Minh C có hành vi trộm cắp tài sản
