Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/HS-ST

Ngày: 05-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Phạm Thị Hồng Hương

2/ Ông Phạm Hiếu Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 03 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS, ngày 22/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 717/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Nguyễn Văn T1); giới tính: Nam; sinh năm 1984, không rõ nơi sinh; hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký thường trú; chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi ở nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị H; bị cáo sống chung như vợ chồng với Phạm Thị Phương H1, sinh năm 1996 và có 02 người con (con lớn, sinh năm 2011 và con nhỏ, sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • Ngày 16/12/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 1480/QĐ-UB về việc đưa người vào cơ sở giáo dục do có hành vi “Trộm cắp tài sản”, thời hạn 24 tháng.
  • Ngày 13/10/2011, Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 7062/QĐ-UBND về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, với thời hạn 24 tháng.
  • Theo Bản án số 32/2014/HSST ngày 26/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/5/2015 chấp hành xong Bản án.
  • Theo Quyết định số 357/QĐ-TA về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã buộc đi chữa bệnh với thời hạn 24 tháng, đến ngày 04/8/2017 đã chấp hành xong Quyết định.
  • Theo Bản án số 37/2018/HS-ST ngày 22/6/2018 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 27/4/2019 chấp hành xong Bản án.
  • Theo Quyết định số 609/QĐ-TA về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 20/12/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã buộc đi chữa bệnh với thời hạn 24 tháng, đến ngày 08/4/2021 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 25 phút ngày 17/02/2024, tại trước nhà số B đường T, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ tuần tra 363 Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy hiệu Future biển số 59T1-588.38 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, T không xuất trình được căn cước công dân, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe gắn máy, Tổ công tác tiến hành kiểm tra, bên trong cốp xe có 01 con dao bằng kim loại dài 30 cm, 01 khẩu súng bằng kim loại dài 20 cm bên trong có 01 viên đạn chì dài khoảng 02 cm, tại ba ga xe có 01 túi da bên trong có 01 bộ đoản dùng phá khóa xe.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định. Khẩu súng, viên đạn chì và con dao T mua của một người tên N không rõ lai lịch với giá 300.000 đồng tại chợ N1, Quận A để phòng thân và chống trả nếu bị truy đuổi khi trộm cắp xe máy. Bộ đoản do người bạn tên Q (không rõ lai lịch) đưa cho T nhằm mục đích đi trộm cắp tài sản, T chưa thực hiện được hành vi phạm tội thì bị Công an bắt giữ. Kết quả xét nghiệm T dương tính ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô Future biển số 59T1-588.38; 01 bộ đoản phá khóa xe; 01 khẩu súng tự chế dài khoảng 20 cm, bên trong có 01 viên đạn chì; 01 con dao có cán dao bằng kim loại sắc nhọn dài khoảng 20 cm, chuôi dao bằng kim loại bọc gỗ bên ngoài có đục hoa văn nổi bằng kim loại dài khoảng 10 cm.

Kết luận giám định số 2661/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận:

  • “- 01 khẩu súng tự chế có hai nòng bằng kim loại dài khoảng 20 cm sử dụng loại đoạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn được đạn nổ, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
  • - 01 viên đạn bằng kim loại, cỡ 5,6x15,6 mm là đạn thể thao chưa qua sử dụng, thuộc danh mục vũ khí thể thao và sử dụng được cho khẩu súng tự chế gửi giám định.
  • - 01 con dao còn sử dụng được có cán, lưỡi sắc, nhọn bằng kim loại, dài khoảng 20 cm, chuôi giao bằng kim loại bọc gỗ, bên ngoài có đục hoa văn nổi bằng kim loại dài khoảng 10 cm còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.”

Ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với các vật chứng trong vụ án, bàn giao 01 khẩu súng tự chế dài khoảng 20 cm, bên trong có 01 viên đạn chì cho Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố H tiếp nhận điều tra theo thẩm quyền. Đối với những vật chứng còn lại giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án: Đã được liệt kê tại Phiếu Nhập kho vật chứng số 582/LNK-ANĐT-Đ3 ngày 30/12/2024 của Cơ quan An ninh điều tra, Công an Thành phố H.

Hiện Cơ quan An ninh điều tra đã lập biên bản chuyển kho vật chứng thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố H chờ xử lý theo quy định.

Tại Bản cáo trạng số: 70/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 21 tháng 01 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

  • Bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51: Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
  • Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.
  • Bị cáo Nguyễn Văn T không tự bào chữa, đồng thời xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời và lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong; kết luận giám định, lời khai của bị cáo, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 19 giờ 25 phút ngày 17/02/2024, tổ tuần tra 363 Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy hiệu Future biển số 59T1-588.38 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện bên trong cốp xe có 01 con dao bằng kim loại dài 30 cm, 01 khẩu súng bằng kim loại dài 20 cm bên trong có 01 viên đạn chì dài khoảng 02 cm, tại ba ga xe có 01 túi da bên trong có 01 bộ đoản dùng phá khóa xe mà T khai đã mua của một người tên N (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng tại chợ N1, Quận A để phòng thân và chống trả nếu bị truy đuổi khi trộm cắp xe máy. Theo Kết luận giám định số 2661/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: “01 khẩu súng tự chế có hai nòng bằng kim loại dài khoảng 20 cm sử dụng loại đoạn cỡ 5,6 mm, súng còn sử dụng được, bắn được đạn nổ, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng....”

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng và vật liệu nổ, được pháp luật bảo vệ, gây bất bình và dư luận xấu trong xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, hành vi phạm tội lần này của bị cáo là nghiêm trọng, song đã trực tiếp tàng trữ vũ khí quân dụng, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng và vật liệu nổ, được pháp luật bảo vệ. Do vậy, Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, cũng để bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên căn cứ vào nhân thân bị cáo, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên toà không có nghề nghiệp ổn định, không có nhà cửa, nơi ở ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Từ đó, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo, cũng như đề nghị về xử lý vật chứng.

[5] Đối với người tên N, T3 và Q không rõ nhân thân, lai lịch là người đã bán vũ khí quân dụng cho bị cáo, song bị cáo không xác định được lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét và đề cập đến trong vụ án này.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) bộ đoản phá khóa xe (trong đó có 03 thanh đoản); 01 (một) con dao có cán dao bằng kim loại, cán gỗ dài khoảng 30 cm; 01 (một) viên đạn bằng kim loại dài khoản 02cm; 01 (một) xe mô tô Future biển số 59T1-588.38, đã bị mài số khung, số máy không xác định được chủ sở hữu, không rõ nguồn gốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với các vật chứng trong vụ án nêu trên, rồi giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét trong vụ án này.

- 01 (một) khẩu súng tự chế có hai lòng bằng kim loại dài khoảng 20 cm giao Bộ Tư lệnh Thành phố H xử lý theo thẩm quyền.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/6/2024.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Giao Bộ Tư lệnh Thành phố H xử lý theo thẩm quyền 01 (một) khẩu súng tự chế có hai lòng bằng kim loại dài khoảng 20 cm.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan an ninh Điều tra Công an Thành phố H và Kho Vũ khí đạn/Phòng Hậu cần/Bộ tư lệnh Thành phố H).

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ quốc Hội;

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 03 năm 2025) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM; (1)
  • - VKSND TPHCM; (3)
  • - Cục THADS; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - THAHS; (1)
  • - PV06 - CA TPHCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (19) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Hồng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 92/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khi quân dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger