TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 92/2025/HS-PT | Ngày: 19/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Bà Trần Thị Lê Na
- Thư ký phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trà My – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà ĐNguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2025/TLPT-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn L do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 248/2024/HSST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/QĐXXPT- HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; Nơi đăng ký HKTT: thôn P, xã B, huyện Đ, TP Hà Nội; Nơi cư trú: thôn L, xã N, huyện S, TP . Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1940, (đã chết) và con bà: Quách Thị Đ, sinh năm 1940, Có vợ là: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, Con: có 03 con, (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021), Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L: Luật sư Phạm Văn K- Văn phòng L1. có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại không có kháng cáo và không được tòa án triệu tập: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1988.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2024, anh Trần Văn H1, sinh năm 1988, trú tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội điều khiển xe ô tô chở rác di chuyển ra Cổng B - Khu L, địa phận thôn Đ, xã N, huyện S, Hà Nội thì thấy xe ôtô BKS: 29C - 757.70 do Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, trú tại thôn L, xã N, huyện S, Hà Nội điều khiển đang đỗ cùng chiều ở phía bên đường. Anh H1 nghĩ L đang chuẩn bị đổ rác thừa từ xe ra ngoài đường nên đã điều khiển xe chạy ngang qua xe Lượng rồi dùng điện thoại Iphone 11 Pro của mình quay chụp hình ảnh của L. Thấy anh H1 chụp hình ảnh của mình nên L nhặt tấm bìa cứng ném về phía xe anh H1 nhưng không trúng. L chạy đuổi theo xe anh H2 và nói “mày quay gì anh đấy, có xóa đi không”. Thấy vậy, anh H1 dừng xe thì cùng lúc L nhảy lên cửa lái xe, bám vào gương chiếu hậu và dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro của anh H1 đang cầm trên tay trái rồi nhảy xuống xe. Anh H1 yêu cầu L trả lại điện thoại nhưng L không trả và bỏ đi. Sau đó, anh H1 đến trụ sở Công an xã N, huyện S trình báo vụ việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 89/12.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tô tụng hình sự huyện S kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro của anh Trần Văn H1 tại thời điểm bị Nguyễn Văn L chiếm đoạt, trị giá 7.766.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số:202/CT – VKS ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nguyễn Văn L tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 248/2024/HSST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1, Điều 171 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo sửa bản án cho bị cáo được hưởng án treo áp dụng Khoản 1 Điều 171; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L: Bị cáo không có mục đích chiếm đoạt. Mục đích xuất phát từ điểm xích mích giữa hai người bị cáo cũng chỉ muốn giật lại điện thoại để xoá. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm điểm x choi bị cáo.
- - Bị cáo Nguyễn Văn L đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1]. Về hình thức:
Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định và kháng cáo của bị cáo là hợp lệ về hình thức nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Về hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào lời khai của bị hại, căn cứ vào lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2024, do nghĩ Nguyễn Văn L đổ rác từ xe ra ngoài nên anh Trần Văn Đ1 dùng điện thoại Iphone 11 Pro của mình quay chụp hình ảnh của L. Thấy anh H1 chụp hình ảnh của mình nên L nhặt tấm bìa cứng ném về phía xe anh H1 nhưng không trúng, khi anh H1 dừng xe thì cùng lúc L nhảy lên cửa lái xe, bám vào gương chiếu hậu và dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro của anh H1 đang cầm trên tay trái rồi nhảy xuống xe. Anh H1 yêu cầu L trả lại điện thoại nhưng L không trả và bỏ đi.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro của anh Trần Văn H1 có trị giá 7.766.000đ đã phạm tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tòa án sơ thẩm xét xử là đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin được hưởng án treo của bị cáo HĐXX thấy:
Về nhân thân: Bản thân chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã giao nộp trả lại chiếc điện thoại cho Người bị hại và được anh H3 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tòa án sơ thẩm không áp dụng điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là chưa phù hợp.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy: Nguyên nhân xảy ra hành vi phạm tội là do bị cáo thấy anh H1 quay phim, chụp ảnh mình nên giật điện thoại của anh H1, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và việc cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng không làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự cải tạo ngoài xã hội.
Từ những phần tích trên HĐXX xem xét, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo và sửa về áp dụng pháp luật.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 248/2024/HSST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội như sau:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng pháp luật và hình phạt:
- - Khoản 1 Điều 171; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Nguyễn Văn L 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Mạnh Cẩm Yến |
Bản án số 92/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 92/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự: Nguyễn Văn L cướp giật tài sản
