Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 92/2025/HS-PT

Ngày: 12-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du và bà Lê Thị Tân

- Thư ký phiên tòa: Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2025/TLPT-HS ngày 06/5/2025, do bị kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thanh Hóa tỉnh Thanh Hoá đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐXXPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo.

Phạm Hùng K - Sinh ngày 25/12/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Phạm Hùng C, sinh năm 1976 và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1978; Vợ, con chưa có; Gia đình có 3 chị em bị cáo con thứ ba; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2024, tạm giam từ ngày 05/11/2024 cho đến nay “Có mặt”.

* Người Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Hùng C, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hùng K: Bà Lê Thị Thu V - Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý, Thanh Hóa. (Vắng mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn một bị cáo không bị kháng cáo, khánh nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 15 phút, ngày 28/10/2024 tổ công tác Công an huyện N lập biên bản bắt quả tang Phạm Văn N, trú tại thôn L, xã T, huyện N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, tại khu vực nhà máy X thuộc thôn V, xã T, huyện N, thu giữ 01 chiếc bật lửa ga; 01 bình nhựa tự chế để sử dụng chất ma tuý. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện N Phạm Văn N khai nhận số ma túy sử dụng là mua với Phạm Hùng K, trú tại khu phố N, thị trấn N, huyện N, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào sáng ngày 20/10/2024, Phạm Văn N có nhắn tin M cho Phạm Hùng K trú tại khu phố N, thị trấn N để hỏi mua ma túy loại hồng phiến. Lúc đó, K đang ở cùng với Vũ Ngọc T, trú tại khu phố L, thị trấn N. Do biết T có ma tuý bán nên K có hỏi T là “có còn ma tuý không?”, T nói “còn” và bảo K bán với giá 120.000đ/01viên hồng phiến. Sau đó, K nhắn tin cho N là còn ma tuý giá là 120.000đồng/01 viên hồng phiến. N nhắn để cho 500.000₫ lấy 04 viên hồng phiến. Sau đó, T đọc cho K số tài khoản Ngân hàng I, Ngân hàng O (P) để K nhắn cho N chuyển tiền mua ma tuý. N nhờ anh Phạm Văn M1 ở thôn L, xã T, huyện N chuyển tiền vào tài khoản cho T rồi chụp lại lịch sử chuyển tiền gửi tin nhắn K biết. Sau khi nhận được tiền T gói 04 viên hồng phiến bằng gói giấy bạc đưa cho K. Phạm Hùng K lấy xe máy của T đến nhà N giao ma tuý.

Lần thứ hai: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/10/2024, Phạm Văn N nhắn tin qua messenger cho Phạm Hùng K hỏi mua ma tuý loại hồng phiến. Sau đó, K nhắn tin qua messenger cho T hỏi còn ma tuý để bán không. T trả lời là còn và bán với giá 150.000đ/01viên hồng phiến. Kiệt nhắn tin cho N nói giá bán N đồng ý mua 03 viên hồng phiến với giá 450.000 đồng. Kiệt nhắn số tài khoản 0984960102, Ngân hàng P (OCB) của Vũ Ngọc T để N chuyển tiền mua ma tuý. T lấy 03 viên ma tuý loại hồng phiến bỏ vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi để ở gốc cây xoài ở quán nước mía sầu riêng chỗ ngã tư, thị trấn N. Sau khi bỏ ma tuý ở đó, T nhắn tin lại cho K nói chỗ cất giấu ma túy để K chỉ chỗ cho N tự đến lấy. N đến vị trí mà K hướng dẫn mà lấy ma tuý rồi đi về. Đến ngày 28/10/2024, N mang theo số ma túy mua được của K vào ngày 24/10/2024. Khi vừa sử dụng xong thì N bị Công an huyện N phát hiện thu giữ tang vật và đưa về trụ sở Công an huyện N để làm việc.

Trong quá trình điều tra thì vào 21 giờ ngày 12/12/2024 Công an thị trấn N bắt quả tang trong người Thành có 38 viên ma tuý loại hồng phiến gồm 35 viên ma tuý loại hồng phiến màu đỏ và 03 viên ma tuý loại hồng phiến màu xanh. T khai nhận số ma tuý trên cất giấu để nhằm mục đích bán kiếm lời.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: Vào khoảng 15 giờ, ngày 12/12/2024, Lê Văn T1 trú tại khu phố H, thị trấn N, huyện N gọi điện cho T hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý loại hồng phiến. T đồng ý và hẹn T1 đến khu vực đường H gần cầu L thuộc khu phố T, thị trấn N, huyện N để giao ma tuý. Sau đó, T lấy 05 viên hồng phiến gói lại bằng mảnh túi nilon màu hồng và đi ra chỗ hẹn; Khi gặp T1 đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T đưa cho T1 01 túi nilon màu hồng bên trong có 05 viên hồng phiến màu đỏ.

Tại Kết luận giám định số 4183/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của phòng K3 Công an tỉnh T thể hiện: “Tìm thấy chất ma túy, loại M2 bám dính bên trong chai nhựa và trên mảnh giấy bạc của phong bì niêm phong mã số NP0334 gửi giám định.”

Tại Kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của phòng K3 Công an tỉnh T thể hiện:

  • - 35 (ba lăm) viên nén hình tròn màu đỏ, trên bề mặt các viên nén có ký hiệu chữ “WY” của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,363g (ba phẩy ba sáu ba gam) loại: Methamphetamine.
  • - 03 (ba) viên nén hình tròn màu xanh, một mặt các viên nén có ký hiệu chữ “A”, mặt còn lại có ký hiệu chữ “Y1” của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,313g (không phẩy ba mốt ba gam) loại: Methamphetamine."

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ:

01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K3 Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Đức L và các hình dấu của phòng K3 Công an tỉnh T; 01 (một) phong bì mẫu vật sau giám định (ma túy) do phòng K3 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Phạm Trung K1 và các hình dấu của phòng K3 Công an tỉnh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s Plus màu vàng, loại máy cảm ứng đã qua sử dụng bị vỡ màn hình; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Galaxy Tab A8, màu đen, loại máy cảm ứng; 01 (một) điện thoại di động loại máy bàn phím đã qua sử dụng mặt trước có chữ “GOLY” bên trong có hai thẻ sim có số thuê bao 0824820383 và 0969632991; 01 (một) điện thoại di động loại máy cảm ứng đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone XSMax màu hồng bên trong có thẻ sim số thuê bao 0984960102; 01 (một) điện thoại di động loại máy cảm ứng OPPO màu đen đã qua sử dụng. Là vật chứng liên quan đến vụ án, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.

Tại Bản án số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa và Thông báo đính chính, sữa chữa, bổ sung bản án số 02/2025/TB-TA ngày 02/4/2025 đã quyết định: Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 119 và Điều 179 Luật số: 59/2024/QH15, ngày 30/11/2024 của Quốc hội luật tư pháp người chưa thành niên đối với Phạm Hùng K.

Căn cứ; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38; Điều 17 Điều 56 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Vũ Ngọc T. Tuyên bố: Phạm Hùng K và Vũ Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Phạm Hùng K 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2024.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định hình phạt đối với Vũ Ngọc T; Xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.

* Kháng nghị:

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã: Kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Đề nghị Tòa nhân dân tỉnh Thanh Hóa căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 358 BLHS, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để xét xử lại theo đúng quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị cáo cho rằng sự vắng mặt của ông tại phiên tòa sơ thẩm không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo vì ông đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có trợ giúp viên pháp lý bảo bệ quyền lợi cho bị cáo, bị cáo đang được tuyên hình phạt nhẹ hơn so với kháng nghị của Viện kiểm sát. Xét thấy, nội dung vi phạm thủ tục tố tụng được nêu trong kháng nghị đã được khắc phục, nên căn cứ khoản 2 Điều 342 BLTTHS, Kiểm sát viên thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 BLTTHS sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Hùng K.

* Luận cứ của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét không chấp nhận quyết định kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc theo quy định tại Điều 356 BLTTHS.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, ăn năn hối lỗi xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục kháng nghị: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa làm trong hạn luật định, tại phiên tòa Viện kiểm sát không rút kháng nghị, không thay đổi, bổ sung nên kháng nghị được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Trong khoảng thời gian ngày 20/10/2024, ngày 24/10/2024, ngày 12/12/2024 Phạm Hùng K và Vũ Ngọc T thực hiện hành vi phạm tội bán trái phép chất ma túy như sau:

Lần thứ nhất, vào sáng ngày 20/10/2024 Phạm Hùng K và Vũ Ngọc T thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho Phạm Văn N, lấy số tiền 500.000 đồng, tại khu vực thôn L, xã T, huyện N.

Lần thứ hai, vào khoảng 16 giờ đến 17 giờ ngày 24/10/2024 Phạm Hùng K và Vũ Ngọc T thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine cho Phạm Văn N, lấy số tiền 450.000 đồng, tại khu vực ngã tư đèn giao thông của thị trấn N, huyện N.

Ngoài ra, khoảng 15 giờ ngày 12/12/2024 Vũ Ngọc T còn thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý, Methamphetamine cho Lê Văn T1, lấy số tiền 500.000 đồng, tại khu vực cầu L thuộc phố T, thị trấn N và thu giữ trong người Vũ Ngọc T 38 viên ma tuý, loại Methamphetamine, kết quả giám định có tổng khối lượng là 3,676 gam, mục đích cất giấu để bán kiếm lời.

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất vụ án:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình chính trị, trị an và an toàn xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[4]. Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá:

* Về hình phạt: Cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Phạm Hùng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng quy định. Bị cáo Phạm Hùng K phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội “mức phạt không quá 3/5 mức phạt tù mà điều luật của BLHS quy định” để tuyên bị cáo Phạm Hùng K mức án 45 tháng tù là vi phạm Điều 54 BLHS vì: bị cáo K chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, cũng không thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và có vai trò không đáng kể trong vụ án, nhưng mức án 45 tháng tù đối với bị cáo là mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tương ứng với mức án của người thành niên (07 năm tù tương ứng với 50 tháng là mức hình phạt = 3/5 áp dụng với người chưa đủ 18 tuổi).

Xét thấy đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, theo khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội “mức phạt không quá 3/5 mức phạt tù mà điều luật của BLHS quy định”. Như vậy, luật chỉ khống chế mức phạt cao nhất áp dụng đối với đối tượng này mà không khống chế mức thấp nhất nên không vi phạm Điều 54 BLHS đối với người chưa thành niên. Hành vi của bị cáo K2 là giúp sức cho bị cáo Vũ Ngọc T bán ma túy mục đích được T cho ma túy sử dụng, không phải mua bán để kiếm lợi nhuận. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 1 tình tiết giảm nhẹ khoản 1 Điều 51 BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS; ở cấp phúc thẩm gia đình có nộp đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình được UBND thị trấn xác nhận là thêm tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS, nên cấp sơ thẩm xử phạt 45 tháng tù đối với bị cáo K là bảo đảm được mục đích của hình phạt và nguyên tắc trong việc xử lý hình sự, người chưa thành niên phạm tội nên không chấp nhận kháng nghị về hình phạt của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Đến thời điểm xét xử bị cáo Phạm Hùng K sinh ngày 25/12/2007 chưa đủ 18 tuổi, nhưng cấp sơ thẩm không đưa người đại diện hợp pháp của bị cáo vào tham gia tố tụng mà chỉ có trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị cáo là vi phạm khoản 3 Điều 423 BLTTHS, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Những vi phạm nêu trên của cấp sơ thẩm tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án để xét xử lại mới đảm bảo pháp luật được thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích cho người chưa thành niên.

Xét thấy Người Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hùng K là ông Phạm Hùng C và người bào chữa cho bị cáo là bà Lê Thị Thu V đã tham gia đầy đủ trong giai đoan Điều tra và truy tố. Khi xét xử sơ thẩm ông C đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng không có ông C trong bản án là sai sót của cấp sơ thẩm, do đó đã Thông báo đính chính, sữa chữa, bổ sung bản án số 02/2025/TB-TA ngày 02/4/2025 về việc “Người Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hùng K là ông Phạm Hùng C; Sinh năm 1976 vắng mặt tại phiên tòa”. Tại phiên tòa phúc thẩm ông C đã có mặt và không có ý kiến gì về bản án cấp sơ thẩm đã xét xử, cũng như việc xét xử vắng mặt ông, ông khẳng định đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo ông không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, ông đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo hoặc giữ nguyên. Tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát đã thay đổi không hủy bản án sơ thẩm mà sửa theo hướng tăng hình phạt.

Từ những phân tích như trên HĐXX xét thấy không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc thay đổi là sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt mà giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do Viện kiểm sát kháng nghị theo điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 119 và Điều 179 Luật số: 59/2024/QH15, ngày 30/11/2024 của Quốc hội Luật tư pháp người chưa thành niên đối với Phạm Hùng K.

* Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hùng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Phạm Hùng K 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2024.

  1. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Hùng K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an H. Ngọc Lặc.TH;
  • - TAND, VKSND H. Ngọc Lặc.TH;
  • - Chi cục THA DS H. Ngọc Lặc.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/HS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy vị thành niên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger