|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Bùi Tấn Dũng.
- 2. Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Kim T, sinh ngày 19/5/2004. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Kim T trình bày:
Chị Lê Kim T và anh Nguyễn Quốc V tự nguyện tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2023. Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 02/3/2023, hiện cháu P đang sống cùng chị.
Chỉ sau vài tháng chung sống, những bất đồng bắt đầu nảy sinh. Anh V dần bộc lộ tính cách thiếu trách nhiệm, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không chăm lo kinh tế, không chia sẻ công việc nhà hay việc chăm sóc con. Dù chị nhiều lần góp ý, anh V vẫn phớt lờ, tiếp tục bỏ bê vợ con để đi chơi, giao du với bạn bè. Vợ chồng không còn nói chuyện được với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến cảm xúc của đối phương. Mỗi khi bất đồng quan điểm, anh V không chọn cách giải quyết mà bỏ đi, để mặc chị tự xoay xở với con nhỏ và các lo toan trong gia đình. Không chỉ vậy, anh V còn tỏ ra lạnh nhạt, vô tâm, không chia sẻ hay hỗ trợ chị trong việc nuôi dạy con chung Nguyễn Hoàng Gia P. Chị cảm thấy cuộc hôn nhân này ngày càng ngột ngạt, căng thẳng, không còn tồn tại tình cảm yêu thương hay sự tôn trọng lẫn nhau. Sống dưới cùng một mái nhà nhưng như hai người xa lạ, không ai chăm sóc ai, mạnh ai nấy lo. Cuộc sống vợ chồng đã mất đi sự gắn kết và tình yêu thương. Đến tháng 9/2024, chị và anh V ly thân, không còn chung sống cùng nhau. Trong suốt thời gian ly thân, anh V không có bất kỳ nỗ lực nào để hàn gắn hay cải thiện mối quan hệ. Chị cũng không còn niềm tin rằng có thể cứu vãn được hôn nhân này, vì tình cảm giữa hai người đã hoàn toàn chấm dứt. Nay chị nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm đã hết, không còn cách nào hàn gắn, chị đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.
- - Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Gia P, không yêu cầu cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh V không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị T được ly hôn với anh V. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 02/3/2023. Về cấp dưỡng: Chưa có yêu cầu nên chưa xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết, nên Kiểm sát viên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn chị Lê Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Kim T và anh Nguyễn Quốc V là hợp pháp, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh V không quan tâm đến gia đình, không chia sẻ công việc, không chăm lo kinh tế, không hỗ trợ vợ trong việc nuôi dạy con chung, thường xuyên bỏ mặc vợ con. Mặc dù chị T đã nhiều lần góp ý nhưng anh V không thay đổi, vợ chồng không còn nói chuyện, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống chung không còn tình cảm, không còn gắn bó, mạnh ai nấy sống. Từ tháng 9 năm 2024 đến nay, hai bên đã ly thân, không còn chung sống. Trong thời gian ly thân, anh V cũng không có thiện chí hàn gắn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh V để tiến hành hòa giải và xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thể hiện sự thiếu thiện chí trong việc hàn gắn quan hệ vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
...”
[4] Về con chung: Chị T và anh V có một con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 02/3/2023. Hiện nay cháu P đang được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Xét thấy, cháu P còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ; đồng thời từ khi vợ chồng ly thân đến nay, anh V không thể hiện trách nhiệm hay có sự chăm sóc đối với con chung, cũng không có yêu cầu nhận nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu P cho chị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời đảm bảo ổn định tâm lý, điều kiện phát triển của cháu bé. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung Nguyễn Hoàng Gia P cho chị tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về nghĩa vụ cấp dưỡng, do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh V không có văn bản ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim T. Cho chị Lê Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.
- Về việc nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim T. Chị Lê Kim T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 02/3/2023.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014754 ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Quốc Bình |
Bản án số 92/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 92/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
