Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ H

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 92/2025/HNGĐ -ST

Ngày: 16/6/2025

(V/v Tranh chấp ly hôn)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh và ông Nguyễn Minh Hoàng
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 178/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Diệu H, sinh năm 1985
  2. Địa chỉ: ấp Huy Đ, xã Điền H, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu

  3. Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1986
  4. Địa chỉ: ấp Bửu 2, xã Long Điền Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị H có đơn xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/4/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Phạm Diệu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Điền Đ và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn cãi vả, bất đồng quan điểm sống, anh Đ không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt và có đánh chị nhiều lần. Trước đây chị nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nhưng anh Đ hứa sẽ sửa đổi nên chị đã cho anh Đ cơ hội nhưng sau khi tiếp tục sống chung thì anh Đ không sửa đổi được từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài không còn quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay tôi xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Chị H xác định anh chị có 02 người con chung tên Trần Tú U, sinh ngày 29/4/2006 và Trần Minh Đ, sinh ngày 19/01/2010. Cháu U đã trưởng thành nên không đặt ra, còn cháu Đ đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con.

Về cấp dưỡng: Không đặt ra.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với anh Trần Văn Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Đ theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án

Về nội dung vụ án: Chị H và anh Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống không còn hạnh phúc, chị H xác định không thể tiếp tục chung sống với anh Đ nên yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị H xác định anh chị có 02 người con chung tên Trần Tú U, sinh ngày 29/4/2006 và Trần Minh Đ, sinh ngày 19/01/2010. Cháu U đã trưởng thành nên không đặt ra, còn cháu Đ đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con, cháu Đ cũng có nguyện vọng được sống với chị H nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận

Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Diệu H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Trần Văn Đ. Anh Đ có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đồng Hải.

Chị H có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Chị H và anh Đ chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân UBND xã Long Điền Đ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị H xác định vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài không còn quan tâm nhau, cũng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Như vậy mâu thuẫn hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh Hiếu là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị H xác định anh chị có 02 người con chung tên Trần Tú U, sinh ngày 29/4/2006 và Trần Minh Đ, sinh ngày 19/01/2010. Cháu Uyên đã trưởng thành nên không đặt ra, còn cháu Đ đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con, cháu Đ cũng có nguyện vọng được sống với chị H nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị H không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Diệu H. Xử cho chị Phạm Diệu H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh Đ, sinh ngày 19/01/2010 cho chị Phạm Diệu H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.

    Anh Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có
  4. Về án phí: Chị Phạm Diệu H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006728 ngày 18 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Phạm Diệu H và anh Trần Văn Đ được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Đ H;
  • - Chi cục THADS huyện Đ H;
  • - UBND xã Long Điền Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Thị Ngọc Bích

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/HNGĐ -ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 92/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Phạm Diệu Hiền - Trần Văn Đẳng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger