|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- CAO BẰNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/12/2025
V/v: "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con "
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hợp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lã Văn Luật
- Ông Đoàn Văn Hộ
Thư ký phiên toà: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Lệ Thuỷ - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đàm Thị L- Sinh năm 1987 (Vắng mặt tại phiên toà, có lý do)
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố S 20, phường T, tỉnh Cao Bằng.
Tạm trú: Tổ dân phố A, phường N, tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Anh Mông Thế M- Sinh năm 1984 (Vắng mặt tại phiên toà, có lý do)
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố S 20, phường T, tỉnh Cao Bằng. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C (chờ thi hành án tử hình).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2025, bản tự khai ngày 19/11/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đàm Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Mông Thế M kết hôn ngày 10/5/2010 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có được tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Cao Bằng.
Về quá trình chung sống: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 01 con chung; đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hoà hợp, hay xảy ra cãi cọ, ngày 01/4/2016 anh Mông Thế M bị bắt vì có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng tuyên phạt mức án tử hình đến nay chưa thi hành án, anh M đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Mông Thế G, sinh ngày 08/5/2012 (giới tính nam). Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến 18 tuổi; không yêu cầu anh M cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án và tiến hành lấy lời khai của bị đơn Mông Thế M. Tại biên bản lấy lời khai của anh Mông Thế M ngày 21/11/2025 tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, anh Minh xác N về thời gian, điều kiện kết hôn, có 01 con chung như chị L trình bày là đúng.
Theo anh M, cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, chung sống với nhau được một thời gian ngắn đến ngày 01/4/2016, anh M phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt tử hình, đến nay chưa thi hành án. Chị L yêu cầu ly hôn với anh, anh nhất trí và không có ý kiến gì.
Về con chung: Hiện nay, anh M đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, chờ thi hành án, nên khi ly hôn anh nhất trí giao con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến 18 tuổi. Không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con nên không có ý kiến gì.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có vi phạm. Anh M, chị L đều có đơn, ý kiến xin xét xử vắng mặt nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt hai bên đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự là đúng pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Mông Thế M. Chị L xác định tình cảm vợ chồng đã tan vỡ không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án anh M có ý kiến trình bày: Nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị Đàm Thị L. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Về con chung: Hiện nay cháu Mông Thế G đang sống cùng mẹ. Quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng nuôi cháu G, anh M đồng ý và cháu G có ý kiến, nguyện vọng sống với mẹ. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu và anh M không có khả năng cấp dưỡng; Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Đàm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án đã được thẩm tra, trên cơ sở những lời trình bày và kết quả tranh luận của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đàm Thị L có quan hệ hôn nhân với anh Mông Thế M; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Cao Bằng. Hiện nay anh M đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C chờ thi hành án. Chị L khởi kiện xin ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của hai bên đương sự: Do anh M đang trong thời gian tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C chờ thi hành bản án tử hình, chị L và anh M đều có bản tự khai, có đơn, ý kiến xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt hai bên đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị L và anh Mông Thế M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Cao Bằng vào ngày 10/5/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh M là hợp pháp.
Về quá trình chung sống vợ chồng: Theo lời khai của hai vợ chồng chị L và anh M, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn đến ngày 01/4/2016 anh Mông Thế M phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý, bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt tử hình, đến nay chưa thi hành án, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Như vậy, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên hai anh chị đều nhất trí thuận tình ly hôn. Sự thỏa thuận ly hôn của chị L và anh M là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được công nhận.
[4] Về con chung: Chị L và anh M cùng xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Mông Thế G, sinh ngày 08/5/2012 (giới tính nam). Hai bên đương sự cùng thống nhất thỏa thuận khi ly hôn giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của anh M. Sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với nguyện vọng của con chung, không trái đạo đức xã hội và hoàn toàn tự nguyện nên cần được công nhận.
Hơn nữa, hiện nay anh Mông Thế M đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C chờ thi hành hình phạt cao nhất, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và cấp dưỡng nuôi con chung nên cần giao cháu Mông Thế G cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, để đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con chung.
[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Hai anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Về án phí: Áp dụng Khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là chị Đàm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 267; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đàm Thị L đối với anh Mông Thế M.
Chị Đàm Thị L được ly hôn với anh Mông Thế M kể từ thời điểm bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung:
Giao con chung là cháu Mông Thế G, sinh ngày 08/5/2012 (giới tính nam) cho chị Đàm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, không ai có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, tòa án không giải quyêt.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con; Chị L và anh M có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.
3. Về tài sản chung: Hai bên đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đàm Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn sung công quỹ Nhà nước; nhưng được đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu BLTU/25E, số 0000030 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng (nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Cao Bằng). Xác nhận chị L đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hợp |
Bản án số 92/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 92/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn L-M
