TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2025/DS-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/TLST-DS ngày 17/3/2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2025/QĐXXST-DS ngày 12/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2025/QÐST-DS ngày 05/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ: số I đường P, phường B, Quận A, TP. H
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, theo Giấy ủy quyền ngày 01/3/2025 (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số F đường H, phường V, Quận C, TP. H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 22/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) có người đại diện hợp pháp theo ủy quyền là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày:
Ngày 20/8/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số 3520281 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Hồng T với khoản vay là 31.980.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân ngày 22/8/2022 theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà T. Theo Hợp đồng, bà T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/9/2022 đến ngày 10/8/2024.
Tuy nhiên, từ ngày 11/3/2023 bà T đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Công ty T1 đã liên hệ qua điện thoại và gửi thư đề nghị bà T thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, bà T vẫn không thực hiện theo thỏa thuận của hợp đồng cho phía Công ty.
Căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, cụ thể là không thanh toán đúng hạn số tiền theo quy định của Hợp đồng tín dụng ký kết với Công ty.
Tính đến ngày 30/7/2024, bà T không thanh toán các khoản tiền như sau: Dư nợ gốc là 24.705.806 đồng; Lãi trong hạn là 8.060.953 đồng; Lãi quá hạn là 9.664.367 đồng; Lãi chậm trả là 730.966 đồng.
Nay nguyên đơn yêu cầu: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T1 với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi), tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 43.162.092 đồng. Đồng thời thanh toán lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T được Tòa án tống đạt, niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật, nhưng bị đơn vẫn không có mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai của bị đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Phước Quỳnh G (có đơn xin vắng mặt) có đơn trình bày: Yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải trả cho Công ty T1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/6/2025 là 58.661.477 đồng (Dư nợ gốc còn lại là 24.705.806 đồng; Lãi trong hạn là 8.060.953 đồng; Lãi quá hạn là 24.432.744 đồng; Lãi chậm là 1.461.974 đồng). Ngoài ra, Công ty còn yêu cầu buộc bà T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng T yêu cầu thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận C thì bà T có đăng ký thường trú tại địa chỉ số F đường H, phường V, Quận C, TP. H. Tòa án nhân dân Quận 3 thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng và xét xử hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Ngày 20/8/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số 3520281 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Hồng T với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân ngày 22/8/2022 theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng. Theo Hợp đồng, bà T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/9/2022 đến ngày 10/8/2024. Việc thỏa thuận trên phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng và quá trình thực hiện hợp đồng, bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Công ty. Công ty đã tiến hành liên hệ qua điện thoại, gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán và thông báo trực tiếp cho bà T để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ 58.661.477 đồng (trong đó dư nợ gốc còn lại là 24.705.806 đồng; Lãi trong hạn là 8.060.953 đồng; Lãi quá hạn là 24.432.744 đồng; Lãi chậm là 1.461.974 đồng). Ngoài ra, bà T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Việc trả số tiền nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về lãi suất: Xét các bên thỏa thuận lãi suất theo quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 208, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam).
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền nợ phát sinh từ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 20/8/2022 tạm tính đến ngày 26/6/2025 là 58.661.477 đồng (trong đó dư nợ gốc còn lại là 24.705.806 đồng; Lãi trong hạn là 8.060.953 đồng; Lãi quá hạn là 24.432.744 đồng; Lãi chậm là 1.461.974 đồng). Việc trả số tiền đã nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Hồng T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi và phí phát sinh từ ngày 27/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 2.933.074 đồng.
Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.079.052 đồng theo biên lai thu tiền số 0059740 ngày 17/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, TP. H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.3; - Chi cục THADS Quận 3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |
Bản án số 92/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 92/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty T1 (Việt Nam) - Nguyễn Thị Hồng T tranh chấp hợp đồng tín dụng
