TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2025/DS-PT
Ngày: 04 - 3 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan;
Bà Châu Minh Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025, về việc: Tranh chấp hợp đồng vay.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 209/2024/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1960; cư trú tại: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Bà Huỳnh Kim C, sinh năm 1975;
- Chị Võ Kim T1, sinh năm 2005.
Cùng cư trú tại: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1964; cư trú tại: Khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo hợp đồng ủy quyền ngày 18/028/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Đông T2, sinh năm 1969; cư trú tại: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đông T2: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1964; cư trú tại: Khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo hợp đồng ủy quyền ngày 18/028/2025).
Do có kháng cáo của: Bà Nguyễn Thị Bé T – Nguyên đơn; Bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 – Bị đơn.
Bà Nguyễn Thị Bé T, ông Ngô Văn Đ có mặt tại phiên tòa; các đương sự khác vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2024 và các lời khai tại Tòa án bà Nguyễn Thị Bé T (nguyên đơn) trình bày:
Vào ngày 10/11/2023 dương lịch (nhằm ngày 27/9 AL) bà có cho bà C và con gái là chị T1 vay số tiền 180.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 03 tháng, mục đích vay kinh doanh buôn bán, biên nhận do chị T1 viết, bà C và chị T1 cùng ký tên và trực tiếp nhận tiền, từ khi vay đến nay không có đóng lãi.
Tiếp đến ngày 01/10/2023 âm lịch (AL) bà có cho bà C và chị T1 vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 03 tháng, mục đích vay kinh doanh buôn bán, biên nhận do chị T1 viết, bà C và chị T1 cùng ký tên và trực tiếp nhận tiền, từ khi vay đến nay không có đóng lãi.
Đến ngày 11/10/2023 AL bà có cho bà C và chị T1 vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 03 tháng, mục đích vay kinh doanh buôn bán, biên nhận do chị T1 viết, bà C và chị T1 cùng ký tên và trực tiếp nhận tiền, từ khi vay đến nay không có đóng lãi.
Đến ngày 19/12/2023 AL bà có cho bà C và chị T1 vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 03 tháng, mục đích vay kinh doanh buôn bán, biên nhận do chị T1 viết, bà C và chị T1 cùng ký tên và trực tiếp nhận tiền, từ khi vay đến nay không có đóng lãi.
Đối với các khoản nợ trên ông T2 là chồng bà C không có ký tên biên nhận, nhưng việc vay tiền ông T2 biết vì mục đích kinh doanh trong gia đình. Các khoản vay chưa đóng lãi nhưng bà vẫn cho vay tiếp, vì do trước đây bà C và chị T1 đã có hỏi vay tiền mục đích kinh doanh mua bán, sau đó trả đủ do tin tưởng, bà C và chị T1 có điều kiện để trả nợ nên mới cho vay tiếp, bà C và chị T1 hứa sẽ trả đủ vốn lãi một lần.
Sau đó, bà đã đòi nhiều lần nhưng bà C và chị T1 không trả. Nay bà yêu cầu bà C và chị T1, cùng ông T2 là chồng của bà C có nghĩa vụ trả cho bà tổng số tiền vốn 1.280.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày làm biên nhận đến khi xét xử, lãi suất theo quy định là 20%/năm, tổng số tiền là 1.589.400.000 đồng.
Đối với bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 và ông Võ Đông T2, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé T nhưng bà C, chị T1 và ông T2 không có ý kiến. Tòa án thông báo để bà C, chị T1 và ông T2 tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng bà C, chị T1 và ông T2 vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.
2
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Kim C trình bày: Vào khoảng tháng 8/2023 AL bà C có vay của bà T số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, khi vay tiền bà T kêu bà C viết biên nhận nhưng do mắt mờ, khó viết chữ nên có điện thoại cho chị T1 (con gái bà C) đến nhà bà T viết biên nhận dùm và bà C ký tên, bà C viết biên nhận trên cuốn sổ tập học sinh, không phải là tờ giấy lẽ như các biên nhận bà T cung cấp. Đến khoảng tháng 10/2023 bà C đã trả đủ số tiền đã vay cho bà T, khi bà C vay tiền thì ông T2 (là chồng) không hay biết, vì mục đích bà C vay tiền để trả các khoản tiền lãi, tiền vay của người khác sử dụng cho mục đích cá nhân bà C, không phải vay về sử dụng chung gia đình. Hiện nay thì bà C không còn nợ bà T, các biên nhận do bà T cung cấp bà C không có ký tên nên có yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà C không đồng ý trả, vì không có nợ. Bà C có đơn yêu cầu giám định lại tại Bộ C1, vì cho rằng không có ký tên. Đồng thời, yêu cầu Tòa án xem xét đối với các biên nhận do bà T cung cấp có biên nhận ngày 01/10/2023 AL bà T cho bà C và chị T1 vay số tiền 300.000.000 đồng, cùng ngày này bà C có trả cho bà T số tiền 400.000.000 đồng như vậy có mâu thuẫn không, các khoản vay bà T thừa nhận chưa có đóng lãi nhưng bà T lại tiếp tục cho vay có phù hợp không. Trường hợp, bà C và chị T1 có vay tiền thì ông T2 cũng không liên quan.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đông T2 trình bày: Ông T2 xác định từ trước đến nay không có vay tiền của bà T và không kêu vợ con đến gặp bà T để vay tiền, ông T2 là người kinh doanh, mua bán nếu có khó khăn về tài chính thì sẽ vay tiền ngân hàng lãi suất thấp hơn vay bên ngoài. Nếu có sự việc vay tiền thì đối với số tiền bà T yêu cầu là rất lớn nhưng bà T không cho ông T2 biết và các biên nhận ông T2 cũng không có ký tên. Do đó, nếu thật sự có sự việc vay tiền thì ông T2 không có liên quan. Hiện nay, ông T2 có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP Đ1 để vay tiền, số tài sản thế chấp vẫn đảm bảo cho ông T2 có nhu cầu vay vốn thêm, nếu cần vốn kinh doanh thì ông T2 sẽ vay ngân hàng chứ không vay tiền của bà T lãi suất cao. Ngoài ra, ông T2 còn có tiền gửi tiết kiệm và sau đó có trả tiền vay cho ngân hàng nên chứng minh ông T2 vẫn đảm bảo về tài chính. Tuy nhiên, vợ con ông T2 đều xác định không có vay tiền và không có viết, ký tên vào các biên nhận, có yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết nên đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông T2 không đồng ý trả.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 209/2024/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Buộc bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B Tám tổng số tiền 1.532.722.000 đồng.
3
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé T, về việc yêu cầu bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 trả cho bà Nguyễn Thị B T số tiền lãi là 56.678.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé T, về việc yêu cầu ông Võ Đông T2 phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 trả cho bà Nguyễn Thị B T tổng số tiền vốn, lãi là 1.589.400.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 24/12/2024 bà Nguyễn Thị Bé T kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên buộc ông Võ Đông T2 cùng chịu trách nhiệm liên đới với bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 thanh toán cho bà tổng số tiền 1.589.400.000 đồng
Ngày 24/12/2024 bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 kháng cáo với nội dung: Yêu cầu giám định lại 04 biên nhận và yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Ngô Văn Đ đại diện bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Xin thay đổi kháng cáo, không yêu cầu giám định lại 04 biên nhận; Yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận biên nhận ngày 01/10/2023 AL với số tiền 300.000.000 đồng vì đã trả xong, chỉ chấp nhận trả vốn và lãi đối với 03 biên nhận ngày 11/10/2023, 10/11/2023 và 19/12/2023 AL với tổng số tiền vốn 980.000.000 đồng. Ngoài ra, yêu cầu tính lãi lại đối với biên nhận ngày 10/11/2023 AL với số tiền vốn 180.000.000 đồng vì cấp sơ thẩm tính ngày dương lịch là sai, lẽ ra phải tính ngày âm lịch.
Bà Nguyễn Thị Bé T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo hướng buộc ông Võ Đông T2 cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà Nguyễn Thị Bé T, đồng thời tính lãi lại đối với biên nhận ngày 10/11/2023 AL với số tiền vốn 180.000.000 đồng, do cấp sơ thẩm tính sai ngày AL và dương lịch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bé T cùng đơn kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3] Hồ sơ thể hiện bà T có cung cấp cho Tòa án 04 biên nhận cụ thể: Biên nhận 01/10/2023 AL, nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, bà C và chị T1 có ký tên người nhận đủ tiền, mục đích vay tiền để kinh doanh buôn bán, lấy hàng vào kho buôn bán hàng ngày. Biên nhận ngày 11/10/2023 AL, nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, bà C và chị T1 có ký tên người nhận đủ tiền, mục đích vay tiền để lấy hàng hóa chuẩn bị bán tết, dự trữ bán tết. Biên nhận ngày 10/11/2023 AL (nhằm ngày 22/12/2023 dương lịch), nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 180.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, bà C và chị T1 có ký tên người nhận đủ tiền. Biên nhận ngày 19/12/2023 AL, nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, bà C và chị T1 có ký tên người nhận đủ tiền.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn xin rút yêu cầu giám định lại, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử về yêu cầu kháng cáo này.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn chấp nhận trả tiền vốn và lãi đối với 03 biên nhận, với tổng số tiền vốn 980.000.000 đồng và lãi.
[6] Riêng đối với biên nhận ngày 01/10/2023 AL, nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 300.000.000 đồng, đại diện bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận, vì cho là bị đơn có vay nhưng đã trả xong. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn không cung cấp chứng cứ gì mới so với phiên tòa sơ thẩm. Do đó phía bị đơn không có chứng cứ để chứng minh lời trình bày của mình là có căn cứ, không có chứng cứ để phản bác lại việc nguyên đơn vẫn giữ biên nhận ngày 01/10/2023 AL, nội dung thể hiện bà C và chị T1 có hỏi vay của bà T số tiền 300.000.000 đồng. Do đó yêu cầu kháng cáo này của bị đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với yêu cầu tính lãi lại đối với biên nhận ngày 01/10/2023 AL, nhận thấy trong biên nhận ghi ngày 01/10/2023 AL, có ghi thêm “Tín dương lịch”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định đôi bên cho vay đều tính AL, chứ không phải dương lịch, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo phần này của bị đơn, điều chỉnh lại phần lãi suất đối với số tiền 180.000.000 đồng.
Theo Biên nhận ngày 01/10/2023 AL là ngày 22/12/2023 dương lịch, tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 10/12/2023, là 11 tháng 12 ngày, lãi cụ thể:
5
180.000.000₫ x 1,66% x 11 tháng 12 ngày = 34.063.200₫
Đối trừ phần lãi ngày 01/10/2023 AL mà Bản án sơ thẩm tính sai:
39.000.000₫ - 34.063.200₫ = 4.936.800₫.
Như vậy, tổng số tiền lãi phải trả là:
252.722.000₫ – 4.936.800₫ = 247.785.200₫.
[8] Tổng vốn và lãi phải trả là:
1.280.000.000₫ + 247.785.200₫ = 1.527.785.200₫.
[9] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T về việc yêu cầu ông Võ Đông T2 có trách nhiệm cùng với bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 trả nợ với số tiền 1.589.400.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Mặc dù tại “Biên nhận vay tiền” chỉ có bà C và chị T1 cùng đứng ra nhận nợ, viết và ký tên, nhưng việc vay tiền của bà C là trong thời kỳ hôn nhân, trong các “Biên nhận vay tiền” của bà C cũng nói rõ mục đích vay là để phục vụ kinh doanh buôn bán, chính quyền địa phương cũng xác nhận bà C và ông T2 vẫn chung sống, buôn bán, làm ăn chung. Những tình tiết nêu trên cho thấy việc bà C vay tiền là để phục vụ nhu cầu làm ăn chung của gia đình bà C và ông T2, do đó đã đáp ứng quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, nên ông T2 phải cùng liên đới trách nhiệm trả nợ cho bà T. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn xác định ngày 01/10/2023 AL ông T2 có đưa cho bà C 400.000.000 đồng để trả nợ cho bà T, điều này cho thấy ông T2 có biết việc vợ ông là bà C vay nợ của bà T. Do đó, việc cấp sơ thẩm không buộc ông T2 cùng có trách nhiệm với C và chị T1 thanh toán nợ cho bà T, là thiếu sót, cần phải buộc ông T2 có trách nhiệm liên đới trong việc trả nợ cho bà T.
[10] Đối với số tiền lãi bà T kháng cáo yêu cầu tính từ ngày viết biên nhận đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi suất theo hai bên thỏa thuận 2%/tháng với số tiền lãi là 309.400.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay”. Bà T yêu cầu mức lãi suất 2%/tháng, với tổng số tiền lãi là 309.400.000 đồng, là vượt quá theo quy định pháp luật nên cấp sơ thẩm điều chỉnh lại với mức lãi suất 20%/năm và tiền lãi tính từ ngày làm biên nhận đến ngày xét xử sơ thẩm, là có căn cứ, nên kháng cáo phần này của bà T không được chấp nhận.
[11] Từ những chứng cứ và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
[12] Án phí
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
6
Bà C, chị T1 và ông T2 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với tổng số tiền phải trả cho bà T, là 57.833.500 đồng (tính tròn).
Bà T không phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận, do là người cao tuổi.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà T, bà C và chị T1 không phải chịu.
[13] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 284, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé T, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé T.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bé T, về việc yêu cầu bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 và ông Võ Đông T2 trả cho bà Nguyễn Thị B T số tiền lãi là 61.614.800 đồng.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 về việc yêu cầu giám định lại.
- Về chi phí giám định: Bà Huỳnh Kim C và chị Võ Kim T1 phải chịu số tiền 5.870.000 đồng (bà C đã dự nộp xong).
- Về án phí
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 và ông Võ Đông T2 phải chịu 57.833.500đ (năm mươi bảy triệu tám trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng).
Bà Nguyễn Thị Bé T không phải chịu.
Bà Nguyễn Thị Bé T không phải chịu (đã được miễn dự nộp).
Buộc bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 và ông Võ Đông T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bé T tổng số tiền 1.527.785.200đ. (Một tỷ năm trăm hai mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, bà C, chị T1 và ông T2 không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
7
Bà Huỳnh Kim C, chị Võ Kim T1 không phải chịu. Ngày 02/01/2025 bà C và chị T1 mỗi người đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo các biên lai số 0019069 và 0019070 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
8
Bản án số 92/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay
- Số bản án: 92/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tai sản giữa bà T bà bà C
