Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/DS-PT

Ngày: 27-02-2025

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản,

tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.

Các Thẩm phán:

  • Bà Phạm Thị Hồng Vân;
  • Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên– Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 657/2024/TLPT-DS, ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 792/2024/QĐ-PT, ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 51/2025/QĐ-PT, ngày 20 tháng 01 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp S, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - có mặt;

- Bị đơn:

  • + Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1947; địa chỉ: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn anh T1: luật sư Phạm Hồng P và luật sư Đinh Thái H thuộc Công ty L5, Đoàn luật sư tỉnh T; đều có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Lê Thị Kim P1, sinh năm 1942; địa chỉ: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • - Ông Lê Thúy H1, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  • - Bà Nguyễn Kim Tuyết H2, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp N, thị trấn Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  • - Anh Võ Châu L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  • - Anh Võ Châu L1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • - Anh Võ Châu L2, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • - Chị Võ Thị L3, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
  • - Văn phòng C (trước đây là văn phòng C1); địa chỉ: Số A, Q, Khu Phố L, Phường T, Thị xã T, Tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phùng Thị D1 – Trưởng Văn phòng; có đơn đề nghị vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị D là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:

Cha bà tên thật cụ Lê Văn S, sinh năm 1913, đã chết năm 2002, cụ Nguyễn Thị P2, sinh năm 1929, chết năm 2014. Cha mẹ bà có tổng cộng 05 người con gồm: Nguyễn Thị H4 (đã chết 1996, không có chồng, con 01 người con tên là Nguyễn Kim Tuyết H2); Lê Thị Kim P1, Lê Thị Kim T; Lê Thúy H1, Lê Thị D. Ngoài những người con trên, cha mẹ bà không có con nuôi, không có con ngoài giá thú. Lý do bà H4 họ Nguyễn là do lấy theo họ của mẹ bà. Khi cha mẹ còn sống tạo được tổng cộng hơn 02 mẫu đất tại Bà N, xã Đ, thị xã T gồm cả đất ruộng và đất đồng. Nguồn gốc do ông bà ngoại bà để lại cho cha mẹ bà là cụ S, cụ P2. Khi cha mẹ còn sống chia cho các con trừ bà H4 mỗi người mỗi người 01 phần đất ruộng khoản 40 cao và mỗi người đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong. Phần đất hiện đang tranh chấp do bà T và bà P1 đang quản lý sử dụng.

Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu bà T chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại đối với diện tích đất 2.512m² thành 02 phần bằng nhau. Bà yêu cầu được hưởng 01 phần tương đương diện tích 837m² thửa 217, tờ bản đồ số 27 tại ấp B, xã Đ, thị xã T. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1 đối với diện tích đất trên. Nay bà thay đổi yêu cầu khởi kiện lại như sau: Bà yêu cầu nhập 02 phần đất do bà P1 và bà Thanh quản L4 lại, chia thừa kế của cha mẹ bà là cụ S, cụ P2 để lại làm 07 phần trong đó 05 người con mỗi người 01 phần, còn 02 phần làm hương hỏa thờ cúng ông bà. Tại phiên đối chất bà yêu cầu giao 02 phần hương hỏa cho bà P1 quản lý sử dụng vì bà P1 là người cúng giỗ ông bà, nhưng nay bà thay đổi lại yêu cầu giao cho bà 01 phần hương hỏa, giao bà P1 01 phần hương hỏa. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1 đối với phần đất diện tích 2.512m² thửa 217 tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Bà yêu cầu được hưởng 02 phần. Đối với tài sản của anh L, anh T1 trên đất thì bà không đồng ý thanh toán lại giá trị tài sản trên đất.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn T1 trình bày:

Anh xác định lời trình bày của bà D về tên của ông bà ngoại anh là đúng, nhưng anh không biết cụ thể họ tên cũng như năm sinh năm chết, họ tên các dì các cậu anh là đúng. Anh là con của bà Lê Thị Kim T.

Năm 2012, anh nhận chuyển nhượng từ mẹ anh diện tích đất 2.512m², thửa 217, tờ bản đồ số 27 cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T. Khi anh nhận chuyển nhượng đất đó thì mẹ anh là bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh nhận chuyển nhượng với giá 55.000.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng công chứng nhưng không nhớ Văn phòng nào. Ngoài hợp đồng chuyển nhượng thì còn có làm giấy tay mua bán. Tiền mua đất anh trả một lần khi làm giấy mua bán nhưng không có làm biên bản giao nhận tiền. Hai bên không có làm biên bản giao nhận đất nhưng thực tế anh đã nhận đất rồi. Anh đã trồng cao su trên đất từ năm 2012 đến nay. Anh đã đi làm thủ tục chuyển quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16-10-2012. Nguồn gốc phần đất trên là do cụ S, cụ P2 cho tặng mẹ anh là bà T. Hai cụ cho mẹ anh lúc còn sống cụ thể là từ năm 1975. Bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 20-6-1993, thời điểm này cụ S, cụ P2 đều sống.

Nay bà D khởi kiện yêu cầu được chia thừa kế của cụ S, cụ P2 để lại đối với 1/3 diện tích 2.512m², thửa 217, tờ bản đồ số 27 cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với anh thì anh không đồng ý. Do đất này mẹ anh là bà T được ông bà ngoại anh là cụ S, cụ P2 cho và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh đã nhận chuyển nhượng đất hợp pháp và đã quản lý, sử dụng cũng như được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị Kim T trình bày thể hiện trong hồ sơ:

Bà là chị của bà D, là mẹ ruột anh T1. Bà K đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà không yêu cầu chia thừa kế phần đất mà bà P1 đang quản lý sử dụng.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh T1, luật sư Phạm Hồng P trình bày: Phần đất bà T chuyển nhượng cho ông T1. Do bà T quản lý sử dụng từ năm 1975, đến năm 1993 bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ S, cụ P2 vẫn còn sống và các cụ không có ý kiến gì. Khi bà T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T1, dù hai bên không lập biên bản giao nhận đất, biên bản giao nhận tiền nhưng anh T1 đã nhận đất và trồng cây cao su trên đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh T1, luật sư Đinh Thái H trình bày: Phần đất bà Thanh quản L4 sử dụng từ năm 1975; cụ S, cụ P2 không có ý kiến gì cả. Do đó, phần đất trên là tài sản hợp pháp của bà T được nhà nước công nhận. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1 là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H3 trình bày: Chị là vợ của anh T1, chị có cùng ý kiến và nguyện vọng với anh T1.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thúy H1 trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà D về họ tên cha mẹ và anh chị em trong gia đình. Về nguồn gốc đất yêu cầu chia thừa kế thừa kế như lời trình bày của bà D là đúng.

Ông đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà D. Ông yêu cầu nhập 02 phần đất do bà P1 và bà Thanh quản L4 lại, chia thừa kế của cha mẹ ông là cụ S, cụ P2 để lại làm 07 phần trong đó 05 người con mỗi người 01 phần, còn 02 phần làm hương hỏa thờ cúng ông bà. Giao 01 phần hương hỏa cho bà D và 01 phần hương hỏa giao bà P1. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1 đối với phần đất diện tích 2.512m² thửa 217 tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ông yêu cầu được hưởng 01 phần theo quy định pháp luật. Đối với tài sản của anh L, anh T1 trên đất thì ông không đồng ý thanh toán lại giá trị tài sản trên đất.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim Tuyết H2 trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của bà D về họ tên ông bà ngoại bà và các cậu dì trong gia đình. Mẹ bà là bà Nguyễn Thị H4 (sinh năm 1943, chết năm 1996), bà không biết cha bà là ai, mẹ bà chỉ có 01 người con là bà, ngoài ra không có con nuôi hay con riêng nào khác.

Bà đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà D. Bà yêu cầu nhập 02 phần đất do bà P1 và bà Thanh quản L4 lại, chia thừa kế của ông bà ngoại bà là cụ S, cụ P2 để lại làm 07 phần trong đó 05 người con mỗi người 01 phần, bà được hưởng 01 phần thừa kế của mẹ bà là bà H4. Còn 02 phần làm hương hỏa thờ cúng ông bà. Giao 01 phần hương hỏa cho bà D và 01 phần hương hỏa giao bà P1 01 phần. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1 đối với phần đất diện tích 2.512m² thửa 217 tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đối với tài sản của anh L, anh T1 trên đất thì bà không đồng ý thanh toán lại giá trị tài sản trên đất.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim P1 trình bày thể hiện trong hồ sơ:

Bà yêu cầu gộp phần đất của bà và phần đất 2.512m² lại, chia thừa kế làm 07 phần trong đó 05 anh chị em mỗi người 01 phần, còn 02 phần giao bà để làm hương hỏa cúng giỗ cha mẹ. Trong trường hợp không gộp 02 phần đất trên để chia thừa kế thì bà không đồng ý lấy phần đất của bà để chia thừa kế.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Châu L trình bày ý:

Anh yêu cầu nếu ai được chia phần đất có tài sản của anh trên đất, anh yêu cầu được thanh toán lại giá trị tài sản cho anh. Đối với đất thì thuộc quyền sử dụng của mẹ anh là bà P1 nên giao mẹ anh quyết định.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Châu L2, anh Võ Châu L1, chị Võ Thị L3 trình bày thể hiện trong hồ sơ: Không có ý kiến gì trong vụ án cả.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 689, 691, 697, 698 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 612, 623 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 228, 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D, về tranh chấp di sản thừa kế đối với bà Lê Thị Kim T, anh Nguyễn Văn T1.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D, về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 335, quyển số 02/2012/TP/VPCC-SCC/HĐGD ngày 15-8-2012 giữa bà Lê Thị Kim T với anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị H3.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10-10-2024, nguyên đơn bà Lê Thị D kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị D. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn bà Lê Thị D có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của bà D trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn bà Lê Thị D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị D, thấy rằng:

[3.1] Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc tài sản tranh chấp tại cấp sơ thẩm, thể hiện:

Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 5.417m², các thửa 77, 217, tờ bản đồ số 27 (BĐ2005), tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; trong đó gồm:

  • - Diện tích 2.512m² thửa 217, tờ bản đồ 27, loại đất 400m² ONT + 2112m² CLN, do ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các tài sản gắn liền với đất: 01 nhà tạm mái lợp tole, cột xi măng, vách đất, nền đất, diện tích 6m x 6,5m, xây dựng năm 1975; 130 cây cao su 15 năm tuổi; 30 bụi tầm vong (20 cây 1 bụi);
  • - Diện tích 2.905m² thửa 77, tờ bản đồ 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Quyền sử dụng đất do bà Lê Thị Kim P1 quản lí, sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4, các công trình kiến trúc và cây trái trên đất (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 29-8-2024). Tài sản gắn liền với đất do bà Lê Thị Kim P1 quản lý, sử dụng.

[3.2] Đối với yêu cầu tranh chấp về tài sản thừa kế: Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ S, cụ P2 cho bà T, bà P1 sử dụng từ năm 1975. Đến năm 1993, bà P1, bà T đã đi làm thủ tục kê khai đăng ký và được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất ngày 20-6-1993. Tại thời điểm bà P1, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ S, cụ P2 vẫn còn sống nhưng hai cụ không có ý kiến phản đối gì. Trên đất tranh chấp không có tài sản (nhà, cây lâu năm) của cụ S, cụ P2 và tại thời điểm đó cụ S, cụ P2 cũng không có quản lý, sử dụng các phần đất này.

Căn cứ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình tại Mục 1, phần II hướng dẫn xác định quyền sử dụng đất là di sản thừa kế, quy định: “1. Xác định quyền sử dụng đất là di sản:

1.1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế”.

Như vậy, phần diện tích đất 5.417m², thuộc các thửa 77, 217, tờ bản đồ số 27 (BĐ2005), tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, cụ S, cụ P2 chưa được đứng tên quyền sử dụng, cũng không có bất cứ giấy tờ nào chứng minh; nên quyền sử dụng đất nêu trên không phải là di sản của cụ S, cụ P2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp thừa kế của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3.3] Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và anh T1; thấy rằng

Diện tích đất 2.512m² thửa 217 tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh được xác định là tài sản của bà T, bà T được UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 000431QSDÐ/I1 ngày 20-6-1993. Bà T có đầy đủ quyền của người sử dụng đất và có quyền định đoạt tài sản trên mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Do đó, việc bà T chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho anh T1 theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 15-8-2012 số chứng thực 335 quyển 02/2012/TP/VPCC-SCC/HĐGD là hợp pháp.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, về việc hủy hợp chuyển nhượng cho quyền sử dụng đất của bà Lê Thị D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Bà D kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết hay chứng cứ nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Bà D là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà D.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị D.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào các Điều 689, 691, 697, 698 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 612, 623 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 228, 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D về tranh chấp di sản thừa kế đối với bà Lê Thị Kim T, anh Nguyễn Văn T1.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 335, quyển số 02/2012/TP/VPCC-SCC/HĐGD ngày 15-8-2012 giữa bà Lê Thị Kim T với anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị H3.
  3. Chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản: bà Lê Thị D chịu số tiền 7.000.000 đồng (ghi nhận đã nộp đủ).
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Lê Thị D chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 2.500.000 đồng tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu số 0027606 ngày 09-10-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Trảng Bàng; hoàn trả cho bà D số tiền 1.900.000 (một triệu chín trăm nghìn) đồng.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà D được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND TX Trảng Bàng
  • - Chi cục THADSTX Trảng Bàng;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Tòa Dân sự;
  • - Lưu VP TAND tỉnh;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 92/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger