|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 92/2025/DS-PT Ngày 16 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng xây dựng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang và bà Phạm Thị Thúy Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng xây dựng. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc bị kháng nghị. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty TNHH Q1; địa chỉ: Số nhà G, đường M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức C, chức danh: Giám đốc (có mặt);
-
Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: Xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Văn C1; Chức vụ: Chủ tịch UBND xã Y (có mặt);
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Qũy đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ trụ sở: Đường T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Đức S – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Văn Đức S: Bà Bùi Thị Kim T - Trưởng phòng cho vay; ông Nguyễn Ngọc T1 - cán bộ Phòng cho vay và ông Phạm Tố L - cán bộ Phòng cho vay – là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/3/2024) (đều có mặt).
4. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/11/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn Công ty TNHH Q1 do người đại diện trình bày: Ngày 06/3/2017, UBND xã Y (Bên A) và Công ty TNHH Q1 (Bên B) ký kết hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ- XD về việc thi công gói thầu “Dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc”, ngày 11/4/2017 hai bên ký Phụ lục số 01 gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ- XD. Theo đó: UBND xã Y giao Công ty TNHH Q1 (dưới đây viết tắt là “Công ty Q1” hoặc “Bên B”) thi công công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổng giá trị hợp đồng là: 1.025.272.422 đồng, trong đó: (i) Chi phí xây dựng là 864.186.775 đồng, (ii) Chi phí thiết bị là: 37.132.338 đồng, (I) chi phí tư vấn đầu tư xây dựng là: 72.910.858 đồng, (iv) chi phí khảo sát, lập báo cáo KTKT là: 51.042.564 đồng.
Tại Điều 5, khoản 5.3 của Hợp đồng quy định: “...Việc thanh toán được thực hiện trên cơ sở khối lượng công việc thực tế hoàn thành ... nhưng không vượt quá 80% giá trị công việc hoàn thành...”. Sau khi bàn giao sản phẩm hoàn thành hai bên tiến hành nghiệm thu quyết toán và thanh lý hợp đồng. Bên A thanh toán cho Bên B 95% giá trị công trình. Phần 5% còn lại sẽ thanh toán sau khi nhà thầu thực hiện bảo hành công trình theo đúng quy định”.
Bên B đã hoàn thành thi công công trình theo đúng hồ sơ thiết kế và Hợp đồng. Ngày 11/9/2017 các bên đã lập Biên bản nghiệm thu kỹ thuật để đưa vào khai thác, sử dụng. Trên thực tế UBND xã Y đã đưa công trình vào sử dụng, bàn giao cho Điện lực Y khai thác từ tháng 9 năm 2017 đến nay, đã hết thời hạn bảo hành, công trình không có bất cứ sự cố kỹ thuật nào cần phải sửa chữa, khắc phục. Trong quá trình thi công, Nhà thầu không được chủ đầu tư tạm ứng theo Hợp đồng, toàn bộ vốn thi công được Quỹ Đầu tư phát triển và B lãnh tín dụng Vĩnh Phúc tài trợ bằng Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ số 05/2017/HĐTC- QĐN ngày 23/5/2017 giữa Quỹ đầu tư phát triển và Bảo lãnh tín dụng Vĩnh Phúc và Công ty Q1, theo đó: quyền đòi nợ của Quỹ là quyền yêu cầu UBND xã Y phải thanh toán giá trị khối lượng thi công gói thầu dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ-XD ngày 06/3/2017 đã ký giữa UBND xã Y và Công ty Q1. Từ ngày hoàn thành thi công, nghiệm thu kỹ thuật đưa công trình vào sử dụng cho đến nay, mặc dù đã đưa công trình vào khai thác, sử dụng và đã hết thời hạn bảo hành nhưng UBND xã Y chưa thanh toán cho Công ty Q1 bất cứ khoản tiền nào. Công ty Q1 và Quỹ Đầu tư phát triển và Bảo lãnh tín dụng có nhiều công văn đề nghị thanh toán, biên bản làm việc với UBND xã Y, Điện lực Y Lạc đề nghị thanh toán, nhưng UBND xã Y cho rằng đơn vị giám sát do UBND xã Y thuê giám sát công trình không phối hợp hoàn tất thủ tục hồ sơ công trình nên chưa thanh toán cho nhà thầu. Thực hiện Biên bản làm việc ngày 05/10/2022 giữa các bên, ngày 18/11/2022 UBND xã Y đã có công văn số 170/CV-UBND gửi Trung tâm giám định chất lượng xây dựng V đề nghị giám định hạng mục công trình, xác định khối lượng, chất lượng công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y làm căn cứ để thanh toán cho nhà thầu. Ngày 05/12/2022 Trung tâm V có văn bản trả lời UBND xã Y cho rằng: việc trưng cầu giám định hạng mục công trình, xác định khối lượng, chất lượng công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y phải là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và theo trình tự do pháp luật quy định.
Công ty Q1 đề nghị Tòa án buộc UBND xã Y thanh toán cho Công ty Q1 tiền nợ thi công gói thầu chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y theo Hợp đồng số 01/2017/HĐ-XD ký ngày 06/3/2017 và các phụ lục kèm theo ký giữa UBND xã Y và Công ty Q1, số tiền là: 901.319.000 đồng (Chín trăm linh một triệu ba trăm mười chín nghìn đồng). Đối với các chi phí phát sinh khác bao gồm: chi phí tư vấn đầu tư xây dựng là: 72.910.858 đồng, chi phí khảo sát, lập báo cáo KTKT là: 51.042.564 đồng công ty không có yêu cầu.
Bị đơn UBND xã Y - Người đại diện theo pháp luật trình bày: Thực hiện Quyết định số 2514/QĐ-CT ngày 19/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh V về việc phê duyệt Báo cáo KTKT xây dựng công trình dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. UBND xã Y đã thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định hiện hành. Tại Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của UBND xã Y đã chỉ định nhà thầu thi công công trình: Dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Đơn vị được chỉ định thầu là Công ty TNHH Q1, giá chỉ định thầu là 901.319.000 đồng, thời gian thi công là 35 ngày. Ngày 06/3/2017, UBND xã Y và Công ty TNHH Q1 đã ký kết hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ-XD về việc dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện Công ty TNHH Q1 là ông Nguyễn Đức C - chức vụ: Giám đốc. Tổng giá trị hợp đồng là 901.319.000 đồng, trong đó: Chi phí xây lắp 864.186.775 đồng, chi phí thiết bị 37.132.338 đồng, thời gian thi công là 35 ngày (ngày khởi công 06/3/2017, ngày hoàn thành 11/4/2017). Hình thức hợp đồng: Hợp đồng trọn gói.
Về nội dung tạm ứng và thanh toán theo hợp đồng: Tại khoản 5.2, Điều 5 của Hợp đồng số 01/2017/HĐ-XD ngày 06/3/2017 hai bên đã thống nhất: Không tạm ứng (việc tạm ứng vốn do hai bên thỏa thuận và được thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng xây dựng có hiệu lực). Tuy nhiên sau đó cũng không có văn bản thỏa thuận nào về việc tạm ứng được ký kết giữa hai bên.
Tại khoản 5.3, Điều 5 “ về thanh toán hợp đồng được thực hiện trên cơ sở khối lượng công việc thực tế hoàn thành trên cơ sở được nghiệm thu nhân với đơn giá hợp đồng, số lần thanh toán do 2 bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 80% giá trị công việc hoàn thanh”. Tuy nhiên, trong quá trình thi công hoàn thành các hạng mục công trình đơn vị thi công không gửi hồ sơ đề nghị thanh toán cho Chủ đầu tư là UBND xã Y để thực hiện thanh toán theo khối lượng hoàn thành thực tế. Do đó không có căn cứ để UBND xã thanh toán. (Có biên bản làm việc với ông Kiều Quốc B1 – nguyên kế toán ngân sách xã Y).
Quá trình thực hiện dự án, UBND xã đã thực hiện chỉ thầu nhà thầu Tư vấn Giám sát thi công xây dựng công trình đối với Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt là Công ty T2) theo quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Chủ tịch UBND xã Y. Hai bên đã ký hợp đồng tư vấn số 01/2017/HĐTV ngày 06/3/2017 về việc tư vấn giám sát công trình: Dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình giám sát và nghiệm thu khối lượng hoàn thành giai đoạn thi công xây dựng, ngày 08/5/2017 các bên tiến hành lập biên bản nghiệm thu phần việc: đào, đổ 07 vị trí móng cột; dựng cột, đã được đại diện Chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn giám sát ký. Tuy nhiên đại diện tư vấn giám sát đã ghi bổ sung ý kiến không đồng ý nghiệm thu, đề nghị chủ đầu tư cho kiểm tra khối lượng, chất lượng bê tông móng. Ngày 10/8/2017, tổ chức nghiệm thu phần lắp dựng cột, xà, sứ, kéo dây, được Chủ đầu tư, nhà thầu và các thành phần tham gia ký xác nhận. Tuy nhiên vắng đơn vị tư vấn giám sát không về tham dự công tác nghiệm thu. Ngày 23/5/2017, Công ty Cổ phần T2 có báo cáo gửi UBND xã Y về công tác tư vấn giám sát thi công xây lắp công trình: Dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung: đã hết hạn hợp đồng nhưng đơn vị thi công vẫn chưa hoàn thành được khối lượng theo hợp đồng, đơn vị thi công chưa bố trí nhân lực, phương tiện phù hợp với hồ sơ dự thầu, quá trình thi công chưa phối hợp với đơn vị tư vấn giám sát, không thông báo kế hoạch thi công, không kiểm tra vật tư thiết bị đầu vào nhưng đã tự ý làm. Trong quá trình tiếp diễn sau đó, UBND xã đã nhiều lần có văn bản mời đơn vị thi công và tư vấn giám sát về để làm việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thống nhất hoàn thiện hồ sơ thanh quyết toán công trình. Tuy nhiên chỉ có một hai lần đơn vị thi công về còn đơn vị tư vấn giám sát không về phối hợp, do đó không thể thống nhất hoàn thiện hồ sơ thanh quyết toán được. (có các văn bản gửi đôn đốc các đơn vị kèm theo).
Ngày 11/9/2017, Điện lực Y tổ chức nghiệm thu kỹ thuật công trình: Dịch chuyển đường dây 10KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Các bên đã thống nhất nghiệm thu chất lượng phần nổi và chỉ ra các tồn tại, kiến nghị khắc phục; còn phần móng cột do Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn giám sát chịu trách nhiệm về chất lượng và nghiệm thu theo giai đoạn thi công. Căn cứ kết luận của Hội đồng nghiệm thu, Chủ đầu tư và đơn vị thi công đã xử lý tồn tại hoàn tất các thủ tục theo quy định và được Điện lực Y đóng điện đưa công trình vào vận hành, khai thác ổn định từ cuối năm 2017 đến nay. UBND xã Y cùng với đơn vị thi công đã có nhiều buổi làm việc để tìm giải pháp khắc phục, tháo gỡ khó khăn. Cụ thể: tháng 11/2020 có buổi làm việc giữa UBND xã Y, Công ty TNHH Q1 và Quỹ đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc để bàn tháo gỡ khó khăn khoản vay quá hạn cho Công ty TNHH Q1 vay lý do tài sản bảo đảm là toàn bộ giá trị công trình theo HĐ xây dựng số 01/2017/HĐ-XD là 901.319.000 đồng. Tuy nhiên, UBND xã chưa có nguồn để thanh toán và cũng có hướng giải quyết mời đơn vị có đủ tư cách pháp nhân, năng lực để kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình để hoàn tất thủ tục hồ sơ phục vụ thanh quyết toán theo quy định. Xong đến nay vẫn chưa mời được đơn vị nào về kiểm tra nghiệm thu. Với các nội dung nêu trên về quá trình triển khai thực hiện dự án có những thuận lợi, khó khăn. UBND xã Y đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định, để có cơ sở pháp lý giúp UBND xã Y (chủ đầu tư) và các đơn vị thi công, tư vấn tháo gỡ khó khăn trong việc nghiệm thu, thanh quyết toán công trình, đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Q đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc, người đại diện trình bày: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 05/2017/HĐTD ngày 24/05/2017 đã ký Quỹ đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Q1) và Công ty TNHH Q1; Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ số 05/2017/HĐTC- QĐN ngày 23/05/2017 đã ký Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Vĩnh Phúc và Công ty TNHH Q1; Hợp đồng xây dựng số: 01/2017/HĐ- XD ký kết ngày 06/3/2017 giữa UBND xã Y (Bên A) và Công ty TNHH Q1 (Bên B). Theo đó: UBND xã Y giao Công ty TNHH Q1 thi công công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổng giá trị hợp đồng là: 901.319.000 đồng, trong đó: (i) Chi phí xây dựng là 864.186.775 đồng, (ii) Chi phí thiết bị là: 37.132.338 đồng. Công trình được thi công từ tháng 4/2017 bằng nguồn vốn của Quỹ Đầu tư phát triển và Bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Vĩnh Phúc) và nhà thầu đảm bảo tiền vay bằng Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ số 05/2017/HĐTC-QĐN ngày 23/5/2017 giữa Quỹ đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng Vĩnh Phúc và Công ty Q1, theo đó: quyền đòi nợ của Quỹ là quyền yêu cầu UBND xã Y phải thanh toán giá trị khối lượng thi công gói thầu dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ-XD ngày 06/3/2017 đã ký giữa UBND xã Y và Công ty Q1.
Công ty TNHH Q1 đã hoàn thành thi công công trình theo đúng hồ sơ thiết kế và Hợp đồng. Ngày 11/9/2017 các bên đã lập Biên bản nghiệm thu kỹ thuật để đưa vào khai thác, sử dụng. Trên thực tế UBND xã Y đã đưa công trình vào sử dụng, bàn giao cho Điện lực Y khai thác từ tháng 9 năm 2017 đến nay, đã hết thời hạn bảo hành, công trình không có bất cứ sự cố kỹ thuật nào cần phải sữa chữa, khắc phục. Từ ngày hoàn thành thi công, nghiệm thu kỹ thuật đưa công trình vào sử dụng cho đến nay, mặc dù đã đưa công trình vào khai thác, sử dụng và đã hết thời hạn bảo hành nhưng UBND xã Y chưa thanh toán cho Công ty Q1 bất cứ khoản tiền nào. Công ty Quang Vĩnh và Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Q1 có nhiều công văn đề nghị thanh toán, biên bản làm việc với UBND xã Y, Điện lực Y Lạc đề nghị thanh toán, nhưng UBND xã Y cho rằng đơn vị giám sát do UBND xã Y thuê giám sát công trình không phối hợp hoàn tất thủ tục hồ sơ công trình nên chưa thanh toán cho nhà thầu. Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Q1 đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết: Quỹ đồng ý để Công ty TNHH Q1 đứng ra khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng xây dựng đối với UBND xã Y; Yêu cầu UBND xã Y thanh toán cho Công ty Q1 tiền nợ thi công gói thầu chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y theo Hợp đồng số 01/2017/HĐ-XD ký ngày 06/3/2017 và các phụ lục kèm theo ký giữa UBND xã Y và Công ty Q1, số tiền là: 901.319.000 đồng để Công ty trả tiền vốn vay của Quỹ đảm bảo an toàn vốn của Nhà nước; Đề nghị Tòa án yêu cầu UBND xã Y khi thanh toán cho Công ty TNHH Q1 số tiền nợ thi công gói thầu chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y theo Hợp đồng số 01/2017/HĐ-XD ký ngày 06/3/2017 chuyển vào tài khoản số: [...] của Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Vĩnh Phúc mở tại Ngân hàng C2 để Quỹ thu nợ vay của Công ty.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự số 12/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 352, Điều 357, Điều 468, Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 120, Điều 121, Điều 122, Điều 144, Điều 147 Luật Xây dựng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Q1. Buộc UBND xã Y phải trả nợ cho Công ty TNHH Q1 số tiền là 901.319.000 đồng.
Bản án còn quyết định về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc kháng nghị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi khai mạc phiên toà đến trước khi nghị án, đảm bảo vô tư, khách quan, đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố Tụng dân sự, đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc làm trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng xây dựng về việc dịch chuyển đường dây điện 10kv ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y nên đối tượng thực hiện hợp đồng tại xã Y, huyện Y; bị đơn là UBND xã Y có trụ sở tại xã Y, huyện Y nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc. Sau khi xét xử, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
[3]. Nội dung vụ án: Ngày 06/3/2017, Công ty Q1 và UBND xã Y có ký kết hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ- XD với nội dung: UBND xã Y giao Công ty Q1 thi công công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổng giá trị hợp đồng là: 901.319.000đồng, trong đó: (i) chi phí xây dựng là 864.186.775 đồng, (ii) chi phí thiết bị là: 37.132.338 đồng. Nay Công ty Q1 khởi kiện yêu cầu UBND xã Y phải trả số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng là 901.319.000 đồng.
[4]. Xét nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm vì cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp vụ án trên là tranh chấp kiện đòi tài sản là không đúng mà phải xác định là quan hệ tranh chấp về hợp đồng xây dựng và trong quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm không đưa đơn vị tư vấn giám sát là Công ty Cổ phần T2 tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử thấy:
[4.1]. Ngày 06/3/2017, Công ty Q1 và UBND xã Y có ký kết hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ- XD với nội dung: UBND xã Y giao Công ty Q1 thi công công trình dịch chuyển đường dây 10 KV ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổng giá trị hợp đồng là: 901.319.000đồng. Cùng ngày 06/3/2017, UBND xã Y có ký hợp đồng tư vấn với Công ty Cổ phần T2 với nội dung tư vấn giám sát công trình dịch chuyển đường dây 10kv ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 08/5/2017 các bên gồm UBND xã Y, Công ty Q1, Công ty T2 có lập biên bản nghiệm thu theo đó Công ty T2 chưa đồng ý nghiệm thu về chất lượng, kích thước, kỹ thuật phần kết cấu móng. Đến ngày 10/8/2017, UBND xã Y và Công ty Q1 lập biên bản nghiệm thu với nội dung đồng ý nghiệm thu và đồng ý cho nhà thầu thi công triển khai thi công bộ phận, giai đoạn tiếp theo. Đến tháng 9/2017, Công ty Y đã được UBND xã Y bàn giao công trình và được đóng điện đưa vào sử dụng từ đó cho đến nay. Khi Công ty Q1 yêu cầu UBND xã trả toàn bộ số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng thì UBND xã không đồng ý trả với lý do Công ty T2 không ký nghiệm thu một số hạng mục nên không lập được hồ sơ quyết toán. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng xây dựng. Cấp sơ thẩm căn cứ vào biên bản xác nhận công nợ đề ngày 17/5/2017 giữa UBND xã Y và Công ty Q1 (BL 55) để xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp kiện đòi tài sản là không đúng vì trong biên bản ngày 17/5/2017, không có nội dung nào thể hiện việc UBND xã Y chốt số nợ với Công ty Q1 mà chỉ có nội dung thể hiện giá trị hợp đồng hai bên đã ký kết. Nên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về nội dung này là có căn cứ.
[4.2]. Trong hợp đồng xây dựng số 01/2017/HĐ- XD, ngày 06/3/2017 đã ký kết giữa Công ty Q1 và UBND xã Y thì không có nội dung nào thể hiện Công ty T2 là Công ty T2, giám sát cho công trình dịch chuyển đường dây 10kv ra khỏi khu đất bán đấu giá xã Y và trong hợp đồng tư vấn ngày 06/3/2017 ký kết giữa Công ty T2 và UBND xã Y cũng không có sự xác nhận của Công ty Q1. Nên trong quá trình thi công công trình thì Công ty Q1 không có trách nhiệm gì đối với Công ty T2. Vụ án này là tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Công ty Q1 và UBND xã Y nên không cần thiết phải đưa Công ty T2 vào tham gia tố tụng để lấy lời khai nên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về nội dung này không được chấp nhận.
[4.3]. Trong vụ án này các đương sự tranh chấp về thanh toán tiền thi công công trình theo hợp đồng xây dựng, các đương sự không đề nghị phạt vi phạm hợp đồng và tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm các đương sự không đề nghị trưng cầu giám định chất lượng, kích thước, kỹ thuật phần kết cấu móng. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm các đương sự đều có quan điểm nếu sau này cấp sơ thẩm mà giải quyết lại vụ án thì các đương sự cũng không đề nghị trưng cầu giám định chất lượng, kích thước, kỹ thuật phần kết cấu móng vì từ thời điểm đưa vào sử dụng tháng 9/2017 đến nay đã gần 8 năm nên chất lượng công trình cũng sẽ bị khấu hao, không còn nguyên giá trị như ban đầu, việc trưng cầu giám định chất lượng công trình sẽ không còn chính xác.
Theo quy định tại Điều 121 Luật Xây dựng thì chủ đầu tư phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc giám sát. Vì vậy, không thể căn cứ vào nghiệm thu của Công ty T2 là căn cứ duy nhất để xác định Công ty Q1 đã hoàn thành hay chưa hoàn thành công trình đã ký kết với UBND xã Y. Trên thực tế sau khi công trình được Công ty Q1 thi công xong thì UBND xã Y và Công ty Y ký nghiệm thu và đưa vào sử dụng từ tháng 9/2017 cho đến nay (hơn 07 năm), công trình vẫn đảm bảo an toàn khi sử dụng. Vì vậy, có căn cứ xác định Công ty Q1 đã hoàn thành việc thi công công trình theo hợp đồng đã ký kết với UBND xã Y, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4.4]. Theo biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải (BL 86-90) thể hiện người tham gia tố tụng là ông Nguyễn Văn H - Phó Chủ tịch UBND xã Y, trong hồ sơ không có văn bản thể hiện việc Chủ tịch UBND xã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, những quan điểm tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải với các lời khai của Chủ tịch UBND xã Y có cùng quan điểm và tại phiên tòa phúc thẩm cũng không có ý kiến gì nên vi phạm trên không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Vì vậy, thấy không cần thiết phải hủy án sơ thẩm vì nếu hủy án sơ thẩm để cấp sơ thẩm giải quyết lại cũng không làm thay đổi nội dung vụ án. Đối với sai sót trên, đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[5]. Đối với đề nghị của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Q đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc về việc nếu UBND xã Y phải trả số tiền trên cho Công ty Q1 thì đề nghị UBND xã Y chuyển số tiền đó vào tài khoản của Q đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng tỉnh Vĩnh Phúc. Thấy rằng, đề nghị này thuộc vào giai đoạn thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Các đương sự không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
[7]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 12/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 352, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 120, Điều 121, Điều 122, Điều 144, Điều 147 Luật Xây dựng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Q1.
Buộc UBND xã Y phải trả nợ cho Công ty TNHH Q1 số tiền là 901.319.000 đồng.
Kể từ ngày Công ty TNHH Q1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, UBND xã Y còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Ủy ban nhân dân xã Y phải chịu 39.039.500 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đồng). Trả lại Công ty TNHH Q1 21.379.000đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003064 ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp.
[3]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Nghĩa |
Bản án số 92/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Số bản án: 92/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
