Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-PT

Ngày: 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Ông Nguyễn Hà Giang

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.

Ngày 06/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/TLPT-HS ngày 12/4/2024 đối với các bị cáo Ngô Thế L, Trần Văn Q do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

*Bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Ngô Thế L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1972;

    Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; là Đảng viên Đ Đảng (đã bị khai trừ ra khỏi Đảng ngày 02/02/2024); Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Ngô Thế V, sinh năm 1945 và bà Lê Thị N, sinh năm 1949; có vợ: Hoàng Thị H1, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2001;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 22/01/2020, bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, (xử phạt bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng, đã nộp phạt ngày 22/01/2020).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2023 đến ngày 09/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Trần Văn Q; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1973;

    Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

    Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị R (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2002;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 22/01/2020, bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, (xử phạt bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng, đã nộp phạt ngày 22/01/2020).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2023 đến ngày 09/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

*Trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 03/10/2023, tại nhà của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang phát hiện bắt quả tang 07 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền gồm: Trần Văn Q, sinh năm 1973; Hoàng Anh T2, sinh năm 1988 và Ngô Thế L, sinh năm 1972 đều ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Hứa Văn D, sinh năm 1978 và Hứa Minh D1, sinh năm 1977 đều ở thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Long Xuân H2, sinh năm 1978, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú bản Làng Ba, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nơi ở bản C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang:

Thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 5.080.000 đồng, 01 chiếu nhựa đôi đã cũ rách và 52 quân bài tú lơ khơ.

Thu giữ của Trần Văn Q: Số tiền 2.699.000 đồng; 01 ví da màu đen đã cũ rách mặt ngoài của ví có chữ “HUYTAM”; 01 điện thoại di động SAMSUNG; 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98B1 - 669.64.

Thu giữ của Long Xuân H2: Số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển kiểm soát 98C1 - 162.79.

Thu giữ của Hoàng Anh T2: Số tiền 2.640.000 đồng; 01 ví da màu đen đã cũ rách mặt ngoài của ví có chữ “BMW”; 01 điện thoại di động SAMSUNG; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển kiểm soát 98D1 - 493.22.

Thu giữ của Hứa Minh D1: 01 ví da màu nâu đã cũ rách mặt ngoài của ví có gắn mác kim loại có chữ “Cefiro”; 01 điện thoại di động VIVO; 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H6 - 9765; T3 tổng số tiền 2.976.000 đồng (thu trong ví số tiền 2.516.000 đồng, thu trong túi quần số tiền 460.000 đồng).

Thu giữ của Nguyễn Văn C1: Số tiền 1.724.000 đồng; 01 điện thoại di động SAMSUNG.

Thu giữ của Ngô Thế L: Số tiền 960.000 đồng; 01 điện thoại đi động IPHONE; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, biển kiểm soát 99F9 - 3660.

Thu giữ của Hứa Văn D: 01 điện thoại di động IPHONE; 01 điện thoại di động NOKIA, model 1110i.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ ngày 03/10/2023, Nguyễn Văn C1 điều khiển xe mô tô một mình đến nhà anh Nguyễn Văn T1 chơi thì anh T1 mượn xe của C1 để đi giải quyết công việc. Sau khi anh T1 đi thì Hứa Văn D đi bộ một mình đến nhà anh T1 rồi ngồi chơi, uống nước với C1. Tiếp đó, Hoàng Anh T2 điều khiển xe mô tô Wave, biển kiểm soát 98D1 - 493.22 đến nhà anh T1, ngồi uống nước với C1 và D. Khoảng 05 phút sau có Long Xuân H2 điều khiển xe mô tô Wave, biển kiểm soát 98C1 - 162.79 đến. C1, H2, D và T2 ngồi uống nước ở phòng khách nhà anh T1 được một lúc thì cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền tại phòng ngủ của nhà anh T1. Sau đó, cả bốn người đi vào phòng ngủ thì thấy một chiếu nhựa đôi đã được trải sẵn trên nền. T2 lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân để trên bàn trong phòng ngủ rồi C1, H2, D và T2 cùng nhau ngồi xuống chiếu đánh bạc. Bốn đối tượng đánh bạc với nhau được một lúc thì có Trần Văn Q đến và tham gia đánh bạc cùng 04 đối tượng trên. Sau đó, Ngô Thế L và Hứa Minh D1 đến, vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Khi 07 đối tượng đang đánh bạc thì có anh Lèo Văn C2, sinh năm 1980 ở bản Làng Ba, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến và đứng xem các đối tượng đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

Hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền như sau: Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân để đánh bạc, trong mỗi ván bạc, mỗi người chơi đặt vào giữa chiếu bạc số tiền 20.000 đồng (gọi là tiền gà hoặc tiền tẩy) để tham gia đánh bạc và được chia 03 quân bài để tính điểm rồi tham gia tố, bài của ai cao điểm nhất thì thắng được cả số tiền gà và tiền của những người tham gia tố ở giữa chiếu bạc, người thắng ván trước sẽ được chia bài ván sau. Hình thức đánh “Liêng” quy định thứ tự từ cao đến thấp lần lượt như sau: Sáp là 03 quân bài giống nhau, ví dụ: 8, 8, 8; Q, Q, Q... trong Sáp thì Sáp A, A, A (át) là cao nhất, Sáp 2, 2, 2 là nhỏ nhất. Liêng là 03 quân bài liên tiếp liền kề nhau không nhất thiết phải đồng chất, đồng màu ví dụ: 3, 4, 5; 10, J, Q; Q, K, A... trong liêng thì Liêng Q, K, A là cao nhất, Liêng A1, 2, 3 là nhỏ nhất. Tranh ảnh, đầu người là có 03 quân bài đầu người, trong đó có 02 quân bài giống nhau ví dụ: J, J, K; Q, Q, K... rồi đến cộng điểm. Khi cộng điểm, tính 9 điểm là cao nhất, các quân bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm. Sau khi được chia bài, những người chơi xem bài của mình, nếu bài của ai điểm cao thì tham gia tố, thứ tự tố lần lượt từ phải qua trái, bắt đầu từ người chia bài. Nếu bài của ai điểm thấp có thể không tham gia tố ván bạc đó và bị mất 20.000 đồng tiền gà đã đặt vào giữa chiếu bạc. Trong mỗi ván bạc, nếu bài của ai được S thì ngoài thắng được cả số tiền gà và tiền của những người tham gia tố ở giữa chiếu bạc, người được S còn được mỗi người chơi trả số tiền 100.000 đồng, nếu bài của ai được Liêng đồng hoa nghĩa là có 03 quân bài liên tiếp liền kề nhau và đồng chất, đồng màu thì mỗi người chơi phải trả cho người đó 50.000 đồng.

Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: Hoàng Anh T2 sử dụng số tiền 700.000 đồng, trong quá trình đánh bạc, T2 vay của D 110.000 đồng để tham gia tố một ván bạc, sau khi tố xong ván bạc đó, T2 đã trả D. Trần Văn Q sử dụng số tiền 700.000 đồng. Nguyễn Văn C1 sử dụng 870.000 đồng. Hứa Minh D1 sử dụng 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang, D1 đang thắng khoảng hơn 200.000 đồng, bỏ tại chiếu bạc số tiền 200.000 đồng, khi bắt quả tang có đút số tiền dùng vào việc đánh bạc là 460.000 đồng vào túi quần thì bị thu giữ khi bắt quả tang. Hứa Văn D sử dụng 830.000 đồng. Long Xuân H2 sử dụng 780.000 đồng. Ngô Thế L sử dụng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là: 5.650.000 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó: 5.080.000 đồng thu tại chiếu bạc, 460.000 đồng thu trong túi quần của D1 sử dụng vào việc đánh bạc và 110.000 đồng T2 vay của D, T2 đã sử dụng vào việc đánh bạc.

Đối với các đồ vật, tài sản tạm giữ, quá trình điều tra đã xác định:

01 xe mô tô Wave, biển kiểm soát 98C1 - 162.79 thu giữ của Long Xuân H2 là của chị Vi Thị T4, sinh năm 1990 ở bản Làng Ba, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là em dâu của H2), chị T4 cho H2 mượn xe để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định H2 không sử dụng xe mô tô trên để đánh bạc nên không có căn cứ xử lý đối với chị T4. Ngày 26/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chị T4 chiếc xe mô tô nêu trên.

01 chiếu nhựa đôi đã cũ rách; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân các đối tượng sử dụng để đánh bạc là của gia đình anh Nguyễn Văn T1.

Đối với số tiền thu giữ trong người các bị cáo, không sử dụng vào việc đánh bạc. Chỉ có số tiền 460.000 đồng thu trong túi quần của D1 sử dụng vào việc đánh bạc.

Đối với số vật chứng còn lại khi bắt quả tang chưa xử lý nên chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế để bảo quản, chờ xử lý.

Đối với anh Nguyễn Văn T1 ở nhà một mình, khi các bị cáo đánh bạc, anh T1 không có mặt ở nhà, không biết việc các bị cáo đánh bạc tại nhà mình nên không có căn cứ xử lý.

Anh Lèo Văn C2 là người có mặt khi các bị cáo đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc, không canh gác, bảo vệ cho các bị cáo đánh bạc nên không có căn cứ xử lý.

Cáo trạng số 03/CT-VKS-YT ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố các bị cáo Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Văn Cường, Hứa Văn D, Long Xuân H2, Ngô Thế L, Trần Văn Q và Hứa Minh D1 về tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang:

  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt Ngô Thế L 07 (bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt hoặc tự nguyện thi hành án nhưng được trừ ngày tạm giữ từ ngày 04/10/2023 đến ngày 09/10/2023.
  • Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thế L 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt hoặc tự nguyện thi hành án nhưng được trừ ngày tạm giữ từ ngày 04/10/2023 đến ngày 09/10/2023.
  • Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Q 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/02/2024 bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q nộp đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo L, bị cáo Q đều trình bày: Về tội danh, điều luật áp dụng xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù giam là nặng. Bản thân các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q hưởng án treo.
  • + Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt Ngô Thế L 07 (bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung 10.000.000đồng để nộp Ngân sách nhà nước.
  • + Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt Trần Văn Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung 10.000.000đồng để nộp Ngân sách nhà nước.
  • -Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Ngô Thế L, Trần Văn Q khai nhận: Hồi 22 giờ 45 phút ngày 03/10/2023, tại nhà anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang các bị cáo có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền cùng các bị cáo khác trong vụ án là Hoàng Anh T2, sinh năm 1988; Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978; Hứa Văn D, sinh năm 1978; Hứa Minh D1, sinh năm 1977; Long Xuân H2, sinh năm 1978 và bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 5.650.000 đồng.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bản án hình sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:

[3.1] Bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo L có vai trò thứ hai cùng với các bị cáo khác trong vụ án là Nguyễn Văn C1, Long Xuân H2; bị cáo Trần Văn Q có vai trò sau cùng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trần Văn Q có bố và mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Tòa cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Ngô Thế L; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Trần Văn Q là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Ngô Thế L giao nộp tài liệu về việc bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đồng là hình phạt bổ sung và 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trần Văn Q nộp tài liệu về việc bị cáo tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đồng là hình phạt bổ sung và 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Việc các bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, thái độ ăn năn hối cải của các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Ngô Thế L giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo có thời gian đi bộ đội (Quyết định của Hội cựu chiến binh xã Đ về việc kết nạp bị cáo vào Hội cựu chiến binh của xã); tài liệu về việc ngày 12/8/2015 bị cáo được Bộ C3 tặng Kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh tổ quốc; tài liệu về việc mẹ đẻ bị cáo là bà Lê Thị N là người có công cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.4] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thế L 07 tháng tù, xử phạt bị cáo Trần Văn Q 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe các bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo L, bị cáo Q hưởng án treo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q. Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và cho bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q hưởng án treo.

  2. Về hình phạt:

    2.1.Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Ngô Thế L 07 (bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000đồng để nộp ngân sách nhà nước (xác nhận bị cáo Ngô Thế L đã nộp 10.000.000đồng tiền phạt theo biên lai thu tiền số 0002109 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang).

    Giao bị cáo Ngô Thế L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2.2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Trần Văn Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung 10.000.000đồng để nộp ngân sách nhà nước (xác nhận bị cáo Trần Văn Q đã nộp 10.000.000đồng tiền phạt theo biên lai thu tiền số 0002108 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang)

    Giao bị cáo Trần Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Thế L, bị cáo Trần Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Yên Thế;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CA huyện Yên Thế;
  • - Chi cục THA huyện Yên Thế ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HSVA; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 92/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L và Q phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger