Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HSST

Ngày: 22/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng, bà Lý Thị The.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lỳ Lỳ D

, sinh năm 1989, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng Trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lỳ Gia H, sinh năm 1950 và con bà Lỳ Hừ D1, sinh năm 1951; Bị cáo có chồng: Vàng Mò Hừ (đã chết) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Điêu Văn H1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do

Người bào chữa: Ông Nguyễn Xuân O- Luật sư cộng tác viên tại trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 24/3/2024, trên đường đi lấy củi về (D đi bộ) đến khu vực thuộc bản N, xã N, huyện M, Lỳ L, sinh năm 1989, trú tại bản N, xã N, huyện M đã mua được của một người đàn ông lạ mặt 09 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền 900.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được H2, Lỳ Lỳ D cất giấu trong túi vải thổ cẩm, có hoa văn, nhiều màu sắc mà D1 đang đeo trên người rồi tiếp tục đi bộ về nhà, về đến nhà D1 lấy ra 01 gói Heroine sử dụng hết. Số H2 còn lại D1 dùng 01 mảnh nilon màu hồng khác gói chung thành 01 gói rồi cất giấu trong túi vải thổ cẩm, có hoa văn, nhiều màu sắc mà D1 đeo trên người và luôn mang theo để tiện cho việc sử dụng và bán lẻ kiếm lời, 01 gói Heroine còn lại D1 cho vào 01 lọ nhựa màu vàng, không có nắp đậy rồi mang đi cất giấu tại đầu giường ngủ của D1. Trong quá trình tàng trữ Heroine, D1 đã trích lấy từ gói Heroine mà De đựng trong lọ nhựa cất giấu tại đầu giường ngủ của D1 để sử dụng 03 - 04 lần.

Đến khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, khi D1 đang ở nhà một mình thì có Điêu Văn H1, sinh năm 1983, trú tại bản Mường Tè, xã M đến hỏi mua Heroine của D1 để sử dụng. Qua trao đổi, thỏa thuận D1 đã lấy gói Heroine trong lọ nhựa màu vàng, không có nắp đậy đang cất giấu tại giường ngủ của De ra, bẻ lấy một ít rồi gói lại bằng mảnh nilon màu hồng và bán cho H1 với giá 50.000 đồng để H1 sử dụng.

Sau khi mua được H2, H1 đem đến cạnh bể nước cách nhà D1 khoảng 05m để sử dụng, khi H1 vừa sử dụng hết số Heroine nêu trên thì bị tổ công tác Công an xã M, huyện M phát hiện, thu giữ 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ của H1. Tại đây, H1 khai nhận số Heroine H3 vừa sử dụng hết là của H3 mua được của D1. Từ lời khai của H3, Cơ quan Công an huyện M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lỳ Lỳ D1. Quá trình thực hiện các quyết định nêu trên, D1 đã đem ra giao nộp cho cơ quan Công an huyện M 07 gói Heroine còn lại mà D1 đang cất giấu trong túi thổ cẩm; 01 gói Heroine được đựng trong lọ nhựa màu vàng cất giấu tại đầu giường ngủ của D1 và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng do D1 bán Heroine cho H3 mà có. Trước sự việc trên tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 31/KLGĐ ngày 28/3/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 08 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lỳ L De có tổng khối lượng là 2,39 gam (hai phẩy ba mươi chín gam).

Tại kết luận giám định số 380/GĐ-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 08 mẫu chất bột, màu trắng (Ký hiệu Mẫu 01 đến Mẫu 08) thu giữ của Lỳ L De gửi giám định là ma túy, loại: Heroine ...

Tại kết luận giám định số 381/GĐ-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá: 50.000 đồng có mã số hiệu: ZR 21644930 thu giữ của Lỳ L De gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 59/CT- VKS-MT ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lỳ Lỳ D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lỳ Lỳ D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lỳ L De 02 năm 04 tháng đến 02 năm 10 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 09 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 lọ nhựa màu vàng; 01 chiếc túi vải thổ cẩm, có hoa văn nhiều màu sắc, có 02 ngăn khóa kéo và có dây đeo màu đen.

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) phong bì công văn của Phòng K Công an tỉnh L phát hành, bên trong đựng: 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, chồng bị cáo chết sớm, con còn nhỏ và bị cáo thuộc hộ nghèo của UBND xã N, huyện M. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ, ngày 27/3/2024, tại nhà ở của Lỳ L thuộc bản N, xã N, huyện M, Lỳ Lỳ D đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Điêu Văn H1 với giá 50.000 đồng, để H1 sử dụng. Ngoài ra,

vào hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày, cũng tại địa điểm nêu trên D1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,39 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã M phối hợp với tổ công tác Công an huyện M phát hiện, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Số Heroine này có chung nguồn gốc với số Heroine mà D1 đã bán cho H1. Như vậy, D1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 2,39 gam. Do đó hành vi của bị cáo Lỳ Lỳ D1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lỳ Lỳ D1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, chồng bị cáo chết sớm, con còn nhỏ, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của UBND xã N, huyện M. Nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Người bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc số H: Chờ khai mua của người đàn ông lạ mặt với giá 900.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Đối với Điêu Văn H1: Quá trình điều tra xác định, H1 đã xử dụng hết Heroine nên không có căn cứ để xử lý hình sự, do đó Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Điêu Văn H1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 2,39 gam Heroine đã gửi hết giám định và không hoàn lại nên không đề cập giải quyết. Đối với 09 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 lọ nhựa màu vàng; 01 chiếc túi vải thổ cẩm, có hoa văn nhiều màu sắc, có 02 ngăn khóa kéo và có dây đeo màu đen. Đây là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng thu giữ của Lỳ Lỳ D1. Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước

[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Lỳ D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Lỳ L De 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 lọ nhựa màu vàng; 01 chiếc phong bì do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu; 01 chiếc túi vải thổ cẩm, có hoa văn nhiều màu sắc, có 02 ngăn khóa kéo và có dây đeo màu đen.

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng.

    (Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 12/8/2024).

  4. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo, người bào chữa (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger