TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-ST
Ngày: 06 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH -TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Thành
Ông Đỗ Ngọc Quý
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm: 2001 tại V - Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Văn H sinh năm 1972 và bà Mai Thị Đ sinh năm 1977, bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: không, Tiền án: Bị Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 67/2022/HSST ngày 03/3/2022. Ngày 25/8/2023, Nguyễn Văn T chấp hành xong hình phạt tù; ngày 24/5/2022, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Nhân thân:
Bị Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/2021/HSST ngày 24/5/2021. Ngày 02/01/2022, Nguyễn Văn T chấp hành xong hình phạt tù; ngày 23/11/2021, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 10/8/2017. Ngày 15/8/2019, Nguyễn Văn T chấp hành xong
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
2
- Bị hại:
- + Ông Trần Đình K – sinh năm: 1974; trú tại: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Bà Lê Thị H1 – sinh năm 1974; trú tại: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị Kim H2 – sinh năm:1969; trú tại: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Chị Trần Thị Mỹ D– sinh năm:1999; trú tại: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Trần Đình T1 - sinh năm: 2004; trú tại: Thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Anh Hồ Ngọc H3 - sinh năm: 1988; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, Nguyễn Văn T đi bộ đến nhà của ông Trần Đình K và bà Lê Thị H1 ở thôn P B, xã V để gặp Trần Đình T1 (con ông K). Lúc này, T thấy nhà ông K, bà H1 không khoá cửa cổng nên vào sân thì không có ai ở nhà. Trường N trộm cắp tài sản, trong sân nhà có dựng 01 xe mô tô Sirius FI, biển số 79V1-425.20, xe gắn chìa khoá xe ở ổ khoá, 02 điện thoại di động loại Vivo và O trên bàn đá. Trường L lấy 02 điện thoại bỏ vào túi quần, rồi nổ máy điều khiển xe mô tô 79V1-425.20 tẩu thoát. T đem xe đến nghĩa địa thôn P B, xã V giấu xe trong bụi cây, rồi đi đến thị trấn V chơi. Trên đường đi, T đã tháo 02 sim điện thoại vứt bỏ và vào tiệm internet chơi, sử dụng tài khoản facebook tên “T” đăng lên mạng facebook rao bán xe. Lúc này, có tài khoản facebook tên “H3” liên hệ hỏi mua xe với giá 3.000.000 đồng. T thuê người xe ôm chở từ thị trấn V đến nghĩa địa ở V để lấy xe. Người mua xe cho số điện thoại nhà xe chạy tuyến Đ, T chạy xe mô tô 79V1-425.20 đến Quốc lộ A rồi gửi xe mô tô 79V1-425.20 cho xe khách đi Đ (không nhớ tên nhà xe) và báo “H3” biết để chuyển tiền vào tài khoản của người lái xe ôm mà T nhờ nhận tiền. Khi nhận được tiền, người xe ôm rút tiền 3.000.000 đồng đưa cho T và được trả công 200.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài hết. Sau đó, T đi vào N bán 02 điện thoại với số tiền 2.000.000 đồng rồi tiêu xài hết. Sau khi phạm tội, Nguyễn Văn T bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho việc điều tra. Ngày 01/9/2024, Nguyễn Văn T bị bắt tạm giam, bị tạm giam từ ngày 01/9/2024.
Tại Tại kết luận định giá tài sản số 475/2024/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
3
01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius FI màu cam đen, biển số 79V1-425.20, trị giá 11.750.000 đồng.
01 điện thoại Vivo Y12S, màu xanh đen, trị giá 2.394.000 đồng.
02 sim điện thoại, trị giá 80.000 đồng.
01 điện thoại Oppo A15F, màu xanh đen, trị giá 3.141.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại tài sản là 17.365.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 96/CT-VKSVN, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa:
- + Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- + Bị hại ông Trần Đình K và bà Lê Thị H1 chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) mà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 17.365.000 đồng.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo và bị hại ông K, bà H1 về việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa tuy vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, nhưng bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của họ và đồng thời lời khai của họ đã có tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, tại thôn P B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 79V1-425.20, điện thoại di động hiệu Vivo và O, 02 sim điện thoại của ông Trần Đình K và bà Lê Thị H1 gây thiệt hại về tài sản là 17.365.000 đồng. Do đó, bản Cáo trạng số 96/CT-VKSVN, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có cơ sở và đúng các quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương.
Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” (bị Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 67/2022/HSST ngày 03/3/2022). Về nhân thân, bị Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/2021/HSST ngày 24/5/2021. Bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 10/8/2017. Chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, không chăm lo làm ăn lương thiện, thích hưởng thụ bằng tài sản, công sức của người khác, coi thường kỷ cương pháp luật, sau khi phạm tội đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố nên cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung. Bị cáo chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 để xét xử đối với bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm rèn luyện, cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Đình K và bà Lê Thị H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) và bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền trên nên cần ghi nhận sự tự nguyện thoả
5
thuận giữa bị cáo và ông K, bà H1 về việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H2 vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai của bà H2 có tại hồ sơ vụ án thì bà H2 không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Mỹ D vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai của chị D có tại hồ sơ vụ án thì chị D không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 01/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn T với bị hại ông Trần Đình K, bà Lê Thị H1 về việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng).
Quy định: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hoà Thanh |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 2 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"
