Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 31 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền và ông Nguyễn Thanh Phương.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 13/TB-TA ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn V (Vũ Quắn, Đ), sinh ngày 21-5-1998, tại A, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu dân cư K, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Dương Thị Kim T1; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-5-2024 đến ngày 24-5-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1994, nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Ông Nguyễn Phước T2, sinh năm 1968, nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • - Ông Bùi Hữu N, sinh năm 1982, nơi cư trú: số I ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
  • - Anh Đặng Quốc T3, sinh năm 2006, nơi cư trú: khu phố H, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt).

Người làm chứng: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1958 (vắng mặt); Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 04-5-2024, Nguyễn Tuấn V đến nhà Nguyễn Thị Á thuộc tổ A, khóm C, phường V, thành phố C thấy Nguyễn Hoàng K (cháu chồng bà Á) đang nằm ngủ nên V tiếp xúc, nói chuyện làm quen với K. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 05-5-2024, V hỏi mượn Khang xe mô tô biển số 67N8-9795 để đi mua thẻ cào điện thoại, lúc này K đói bụng nên có nhờ V mua đồ ăn dùm K, K đưa chìa khóa xe mô tô cho V. Sau khi mua về, V đưa lại chìa khóa xe nhưng K tin tưởng giao cho V để sử dụng khi cần, sau đó, V hỏi mượn điện thoại di động SamSung A52 của K để chơi game. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô và điện thoại di động của K để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên lấy xe mô tô điều khiển đến cửa hàng điện thoại di động “Hữu Nghĩa” thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang bán điện thoại cho Bùi Hữu N được 1.000.000 đồng, tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy lên tỉnh Đồng Nai gặp bạn tên Đặng Quốc T3 bán xe mô tô biển số 67N8-9795 cho T3 được 800.000 đồng. K sau khi thức dậy không thấy V cùng điện thoại di động và xe mô tô nên đến Công an phường V trình báo sự việc. Ngày 15-5-2024, V đến Công an phường V, thành phố C đầu thú.

Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 67N8-9795; tiền Việt Nam 1.000.000 đồng. Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Hoàng K 01 xe mô tô biển số 67N8-9795.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 1219/KL-ĐG ngày 17-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 67N8-9795, giá trị 9.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A52, giá trị 2.700.000 đồng. Tổng trị giá 11.700.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô, yêu cầu được nhận lại 1.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn V khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H Tại Cáo trạng số: 74/CT-VKSCĐ ngày 07-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Nguyễn Tuấn V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tuấn V vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người làm chứng Nguyễn Văn T khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng Nguyễn Thị Á vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (bút lục 79-87, 106-108).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giao trả cho bị hại Nguyễn Hoàng K số tiền 1.000.000 đồng thu giữ.

Bị cáo Nguyễn Tuấn V không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05-5-2024 tại khu vực nhà bà Nguyễn Thị Á thuộc tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, sau khi được bị hại Nguyễn Hoàng K giao chìa khóa xe mô tô biển số 67N8-9795 nhờ đi mua đồ ăn và điện thoại di động SamSung A52 cho bị cáo chơi game, bị cáo đã có hành vi lợi dụng quan hệ quen biết, sự tin tưởng của bị hại để chiếm đoạt xe mô tô biển số 67N8-9795, trị giá 9.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu SamSung A52, trị giá 2.700.000 đồng của Nguyễn Hoàng K, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 11.700.000 đồng.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Tuấn V đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù và mức hình phạt đủ có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội và tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng K đã nhận lại chiếc tài sản chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ do ông Bùi Hữu N giao nộp, đây là khoản thu lợi có được từ việc bán điện thoại di động SamSung A52 bị cáo chiếm đoạt của bị hại và bị hại cũng có yêu cầu nhận lại số tiền này nên giao trả số tiền này cho bị hại Nguyễn Hoàng K.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với Bùi Hữu N, Đặng Quốc T3 khi mua điện thoại di động và xe mô tô không biết đây là tài sản do bị cáo V phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Hữu N, Đặng Quốc T3 là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V (V, Đ) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 15-5-2024 (ngày mười lăm, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Giao trả cho ông Nguyễn Hoàng K: tiền Việt Nam 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Tuấn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Thi hành án DS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Vũ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger