Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 22/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Vinh
Thẩm phán: Ông Bùi Trọng Danh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Yến Lan
Bà Đặng Thị Liễu
Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký TAND TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thị L; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; sinh ngày: 08/9/1992 tại Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; Nơi đăng ký HKTT: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; cha Phạm Ngọc T (SN: 1964); mẹ Nguyễn Thị P (SN: 1965); gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; có chồng Lý Ngọc M (SN: 1991) và 02 con, lớn nhất SN 2021, nhỏ nhất SN 2022.

    Tiền án, tiền sự: chưa.

    Hiện bị cáo đang bị tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Trần Thị Thanh T1; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; sinh ngày: 05/10/1985 tại Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; nơi đăng ký HKTT: số I L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; cha Trần H (SN: 1959); mẹ Nguyễn Thị L1 (SN: 1959); gia đình có 04 anh em; bị cáo là con út;

2

Tiền án, tiền sự: Chưa;

Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị L: Ông Nguyễn Huy V – là Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ (Luật sư V bào chữa theo chỉ định). Có mặt.

*Bị hại: Công ty TNHH MTV B (Công ty B), địa chỉ: A N, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Võ Thị Kim N, sinh năm 1977; Trú tại: Số I, Nguyễn Tri P1, thành phố Đà Nẵng – chức vụ: Giám đốc. Có mặt.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH MTV B: Ông Nguyễn Ngọc C – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ. Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Thị Xuân H1, sinh năm 1989; Trú tại: K L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

  2. Trương Thị Kim D, sinh năm 1994; Trú tại: K H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  3. Huỳnh Vũ Minh T2, sinh năm 1991; Trú tại: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Trần Nữ Liên T3, sinh năm 1994; Trú tại: Số A đường C, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  5. Ngô Thị Như Q, sinh năm 2002; Trú tại: Số C đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  6. Ông Lê Đình C1, sinh năm 1982; Trú tại: F T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  7. Ông Nguyễn Đức V1, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt, không có lý do.

  8. Ông Võ Hùng H2, sinh năm 1992; Trú tại: Tổ A, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH MTV B (Công ty B), địa chỉ: A N, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, thành lập ngày 07/12/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 06/4/2022, đại diện theo pháp luật: Võ Thị Kim N. Lĩnh vực kinh doanh: bán vé máy bay nội địa và quốc tế với hình thức: công ty ký hợp đồng đại lý bán vé với

3

các hãng bay, công ty cung cấp vé và tiến hành đặt cọc, ký quỹ ngân hàng một số tiền nhất định để đảm bảo thanh toán hợp đồng. Sau đó, các hãng bay, công ty cung cấp vé sẽ cung cấp cho Công ty B Trăng một USER (USER tổng) có quyền truy cập vào kho vé điện tử dưới dạng mã code do các hãng bay khởi tạo để tìm kiếm, truy xuất bán vé cho khách hàng. Thông qua USER tổng mỗi nhân viên bán vé được công ty khởi tạo một USER con để thực hiện nhiệm vụ truy xuất bán vé, thu tiền nộp lại cho công ty và có trách nhiệm nhập đầy đủ thông tin về số tiền vé công ty mua vào, bán ra, mã code đã xuất bán vào phần mềm kế toán để công ty theo dõi, hạch toán, thanh toán cắt nợ tiền vé do mình xuất bán.

Tháng 3/2016, Phạm Thị L được Công ty B tuyển dụng vào vị trí là nhân viên kế toán. Đến ngày 01/8/2016, công ty giao cho Phạm Thị L phụ trách kế toán kiêm thủ quỹ công ty, với nhiệm vụ cụ thể: kiểm tra theo dõi, thu tiền nhập quỹ, hạch toán thanh toán cắt nợ cho nhân viên bán vé, quản lý công nợ, thiết lập hồ sơ, chứng từ sổ sách kế toán hàng tháng, kết quỹ, báo cáo kết quả thu chi tồn quỹ cho Giám đốc công ty và trực tiếp quản lý quỹ tiền mặt của công ty. Các vấn đề liên quan đến chính sách đối với nhân viên của công ty như: việc chi tiền cho nhân viên.. đều do Giám đốc công ty quyết định và trao đổi lại với Phạm Thị L để Phạm Thị L thay mặt giám đốc trực tiếp thông báo đến nhân viên công ty và trực tiếp thực hiện việc chi tiền cho nhân viên (công ty không có ban hành thông báo cũng như chứng từ ký nhận tiền của nhân viên...).

Tháng 4/2017, Trần Thị Thanh T1 được Công ty B tuyển dụng vào vị trí là nhân viên kế toán với nhiệm vụ được giao: cuối tháng chốt công nợ cho khách hàng là công ty và xuất hóa đơn cho khách hàng khi có yêu cầu; thu tiền khách hàng; thực hiện các công việc khác theo yêu cầu của ban giám đốc.

Trong thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021, Phạm Thị L, Trần Thị Thanh T1 đã có hành vi: thu tiền bán vé máy bay nhưng không nhập quỹ công ty hoặc nhập quỹ ít hơn số tiền thực tế. Tổng số tiền bán vé máy bay Phạm Thị L đã thu là 8.592.603.024 đồng nhưng chỉ nhập quỹ báo cáo doanh thu cho Công ty B số tiền 6.489.015.036 đồng, chiếm đoạt của Công ty B số tiền 2.103.587.988 đồng. Trong đó, Trần Thị Thanh T1 biết và tham gia giúp sức cho Phạm Thị L chiếm đoạt số tiền 6.920.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được Phạm Thị L, Trần Thị Thanh T1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Để thực hiện hành vi và che dấu việc chiếm đoạt tiền của Công ty B, sau khi nhận tiền bán vé của khách từ nhân viên của công ty nộp về, Phạm Thị L không nhập quỹ công ty hoặc có nhập quỹ nhưng nhập ít hơn số tiền thực tế, sau đó Phạm Thị L sử dụng User của L hoặc User của Phan Thị Xuân H1 - nhân viên bán vé (có lần H1 nhập sai nên đưa mật khẩu nhờ L nhập lại) đăng nhập vào phần mềm kế toán tự chỉnh sửa số liệu báo cáo bán của nhân viên bán vé,

4

nói dối với nhân viên bán vé là công ty sẽ chi trả tiền cho nhân viên bán vé nếu canh được vé giá rẻ để nhân viên bán vé thông báo số vé giá rẻ đã canh được cho Phạm Thị L biết. Phạm Thị L còn rủ và nhờ Trần Thị Thanh T1 tìm các vé khách lẻ hoặc Phạm Thị L tự tìm vé để hạch toán khống tiền vé vào các phiếu thu, ủy nhiệm thu khống trong phần mềm kế toán, các ủy nhiệm thu đã chi hết tiền, hạch toán bù trừ tiền hoàn vé và xóa vé do nhân viên bán vé nhập báo cáo bán trong phần mềm kế toán để chiếm đoạt tiền của công ty. Cụ thể:

  1. Thu tiền bán vé nhưng không nhập quỹ hoặc nhập quỹ ít hơn số tiền thu thực tế rồi hạch toán khống tiền vé vào các phiếu thu, ủy nhiệm thu lập khống trong phần mềm kế toán để chiếm đoạt: Phạm Thị L đã thu số tiền 8.390.941.168 đồng trong 392 phiếu thu tiền bán vé máy bay nhưng chỉ nhập quỹ báo cáo doanh thu cho công ty số tiền 6.489.015.036 đồng, chiếm đoạt số tiền 1.901.926.132 đồng. Trong đó, Trần Thị Thanh T1 đã trực tiếp thu số tiền: 19.919.000đ (trong 09 phiếu thu tiền bán vé máy bay) đã đưa lại cho Phạm Thị L, nhưng Phạm Thị L chỉ nhập quỹ số tiền 12.999.000 đồng, Trần Thị Thanh T1 theo yêu cầu của Phạm Thị L hạch toán khống vào các phiếu thu, ủy nhiệm thu và cùng Phạm Thị L chiếm đoạt số tiền 6.920.000 đồng. (Có danh sách cụ thể kèm theo).

  2. Thu tiền bán vé nhưng không nhập quỹ rồi hạch toán vào ủy nhiệm thu đã chi hết tiền để chiếm đoạt: Phạm Thị L đã thu số tiền 163.637.856 đồng của 90 vé máy bay sau đó hạch toán vào 02 ủy nhiệm thu đã chi hết tiền trước đó rồi chiếm đoạt với tổng số tiền: 163.637.856 đồng (Có danh sách cụ thể kèm theo).

  3. Thu tiền bán vé không nhập quỹ rồi hạch toán bù trừ khống vào tiền hoàn vé để chiếm đoạt: Phạm Thị L đã thu số tiền 10.699.000 đồng của 03 vé máy bay nhưng không nhập quỹ mà hạch toán bù trừ khống vào tiền hoàn vé và chiếm đoạt số tiền: 10.699.000 đồng. (Có danh sách cụ thể kèm theo)

  4. Xóa bỏ vé trong phần mềm kế toán do nhân viên bán vé nhập để chiếm đoạt: Phạm Thị L đã thu số tiền 27.325.000 đồng của 10 vé máy bay nhưng không nhập quỹ mà đăng nhập vào phần mềm kế toán để xóa bỏ vé do nhân viên bán vé nhập chiếm đoạt số tiền: 27.325.000 đồng (Có danh sách cụ thể kèm theo).

* Tang vật tạm giữ:

  • 631 phiếu thu tiền bán vé của Công ty TNHH B trong thời gian từ 01/01/2018 đến 04/3/2021.

  • 04 tập tài liệu gồm: bản báo cáo tổng hợp tồn quỹ, số quỹ tiền mặt, số tiền gửi ngân hàng do Phạm Thị L gửi báo cáo Công ty hàng tháng thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 08 tập tài liệu là số tiền gửi ngân hàng của Công ty B, thời gian từ ngày

5

01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 38 tập tài liệu là bảng công nợ khách hàng của công ty B, thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 508 tờ tài liệu là phiếu thu, ủy nhiệm thu và thông tin về hạch toán thanh toán tiền vé máy bay của Công ty B.

  • 40 tập tài liệu là bảng tổng hợp số liệu chỉnh sửa sổ sách kế toán sau khi nộp báo cao và bảng đổi chiều chênh lệch của số quỹ tiền mặt trên phần mềm kế toán với số quỹ tiến mặt L nộp báo cáo cho công ty, thời gian từ tháng 01/2018 đến ngày 04/5/2021 của Công ty B.

  • 05 tập tài liệu là nhật ký chỉnh sửa sổ quỹ ngoại tệ trong phần mềm kế toán sau khi nộp báo cáo.

  • 04 tập tài liệu là nhật ký chỉnh sửa chứng từ trong số quỹ tiền mặt được trích xuất trên phần mềm kế toán của công ty.

  • 04 tập tài liệu thể hiện User của Trần Thị Thanh T1 thực hiện hạch toán khống tiền trong 09 phiếu thu trong khoảng thời gian từ 2018 đến 03/2021.

  • 02 tập tài liệu thể hiện User của Phan Thị Xuân H1 thực hiện chỉnh sửa nhập báo cáo bán đối với 67 phiếu thu tiền thực tế trong năm 2018 và 2019, sau đó hạch toán bỏ ngoài quỹ số tiền 150.930.180 đồng.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn phong tỏa số tiền 47.345.478 trong tài khoản số: 19032304071011 Ngân hàng T4 của Phạm Thị L. Kê biên thửa đất số 171, tờ bản đồ số 139; Lô 15 phân khu B, TĐC Bá Tùng mở rộng, diện tích (5x20)m. Địa chỉ tại: tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, đứng tên chủ sở hữu: Phạm Thị LLý Ngọc M. Giao cho Phạm Thị L quản lý.

Quá trình điều tra Phạm Thị L, Trần Thị Thanh T1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKS-P1 ngày 16/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị Phạm Thị L về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thị Thanh T1 về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Các bị cáo Phạm Thị LTrần Thị Thanh T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã kết luận; các bị cáo nhận tội. Các bị cáo xin HĐXX xem xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình và các tình tiết giảm nhẹ được hưởng theo quy định của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình; riêng bị cáo T1 xin HĐXX xem xét thêm về vai trò phạm tội của mình, giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.

6

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo LT1 như cáo trạng đã nêu; sau khi phân tích tính chất của vụ án, vai trò mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo; đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo L mức án từ 15 năm đến 16 năm tù. Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo T1 mức án từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị buộc các bị cáo bồi thường số tiền còn chiếm đoạt cho bị hại và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật như đã đề xuất tại bản cáo trạng.

- Quan điểm bào chữa của các luật sư:

Luật sư Nguyễn Huy V bào chữa cho bị cáo Phạm Thị L thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết như: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, 02 con còn nhỏ. Quá trình tố tụng đã thành khẩn khai báo, hợp tác với Công ty và Cơ quan điều tra trong việc xác định thủ đoạn phạm tội và số tiền chiếm đoạt, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho công ty. Do vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn mức án mà Viện kiểm sát đã đề nghị và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản riêng, không đảm nhận chức vụ hay quyền hạn gì.

Luật sư Nguyễn Ngọc C: Thống nhất về tội danh cũng như các điều khoản áp dụng đối với hai bị cáo của đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đúng quy định pháp luật để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của bị hại.

- Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Sau khi kiểm

7

tra và đánh giá, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với những người liên quan vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Trong quá trình điều tra những người vắng mặt đã có lời khai trình bày và yêu cầu cụ thể trong hồ sơ vụ án, xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Qua xem xét lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà; lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; ý kiến của các bị cáo; luận cứ bào chữa của các luật sư cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, HĐXX xác định: Trong thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021, Phạm Thị L – kế toán kiêm thủ quỹ, Trần Thị Thanh T1 – kế toán của Công ty B đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, vị trí công việc được giao trực tiếp quản lý tài sản của Công ty để thực hiện các hành vi: thu tiền bán vé máy bay của khách nhưng không nhập quỹ công ty hoặc nhập quỹ ít hơn số tiền thực tế. Tổng số tiền bán vé máy bay Phạm Thị L đã thu là 8.592.603.024 đồng nhưng chỉ nhập quỹ báo cáo doanh thu cho Công ty B số tiền 6.489.015.036 đồng, Phạm Thị L chiếm đoạt của Công ty B số tiền 2.103.587.988 đồng. Trong đó, Trần Thị Thanh T1 đã trực tiếp thu số tiền: 19.919.000đ, đã đưa lại cho Phạm Thị L, nhưng Phạm Thị L chỉ nhập quỹ số tiền 12.999.000 đồng, Trần Thị Thanh T1 theo yêu cầu của Phạm Thị L hạch toán khống vào các phiếu thu, ủy nhiệm thu và cùng Phạm Thị L chiếm đoạt số tiền 6.920.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được Phạm Thị L, Trần Thị Thanh T1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi trên của bị cáo L là phạm tội “Tham ô tài sản” theo tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo T1 là phạm tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS với vai trò đồng phạm giúp sức, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, HĐXX nhận thấy: Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được công ty giao như một phương tiện để biến tài sản của công ty do mình trực tiếp quản lý thành tài sản của mình. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý tài sản nói chung và quản lý tài chính, kinh

8

tế nói riêng, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp nên cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.1] Xét đây là vụ án có đồng phạm, tuy nhiên, không mang tính tổ chức, trong đó vai trò của các bị cáo thể hiện:

[3.1.1] Đối với bị cáo Phạm Thị L là người có vai trò chính trong vụ án, bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi báo cáo tồn quỹ trên sổ sách ít hơn tồn quỹ thực tế; lập phiếu chi khống, chi không đúng số tiền thực tế, thu tiền bán vé máy bay của khách nhưng không nhập quỹ công ty hoặc nhập quỹ ít hơn số tiền thực tế nên đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất và hành vi của bị cáo, vì vậy, khi quyết định hình phạt bị cáo cao hơn bị cáo T1 là có căn cứ.

[3.1.2] Đối với bị cáo Trần Thị Thanh T1 là đồng phạm với vai trò giúp sức, Trần Thị Thanh T1 theo yêu cầu của Phạm Thị L hạch toán khống vào các phiếu thu, ủy nhiệm thu và cùng Phạm Thị L chiếm đoạt số tiền 6.920.000 đồng nên đối với bị cáo cũng cần có mức hình phạt tương xứng, tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có thấp hơn so bị cáo L.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Thị L nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty Biển Trăng, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị Thanh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đều có con còn nhỏ. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L, T1 đều đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho cả hai bị cáo. Bị cáo L phạm tội trong thời điểm đang mang thai. Vì vậy, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo L được quy định tại điểm b, n, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS. Riêng bị cáo T1 HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, bởi lẽ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với vai trò giúp sức giản đơn, giá trị chiếm đoạt rất nhỏ nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo T1 có cơ hội được cải tạo dưới sự giám sát của địa phương nơi bị cáo T1 cư trú cũng đảm bảo giáo dục, cải tạo cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T1 đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 110.000.000 đồng nên

9

bị hại không yêu cầu bị cáo T1 bồi thường. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với bị cáo L, bị cáo đã bồi thường 611.027.218 đồng, tại phiên toà, bị cáo tiếp tục bồi thường thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng bị cáo đã bồi thường 661.027.218. Tại phiên toà, bị hại yêu cầu bị cáo L tiếp tục bồi thường số tiền 1.247.275.000 đồng. HĐXX xét thấy, tổng thiệt hại trong vụ án này, bị cáo L, T1 đã gây ra là 2.103.587.988 đồng, sau khi khấu trừ số tiền H1(150,930,180 đồng), T1 (6,920,000 đồng) bồi thường, bị cáo L phải tiếp tục bồi thường số tiền 1.247.275.000 đồng như yêu cầu của bị hại là phù hợp với quy định tại các Điều 48 BLHS, Điều 589 BLDS.

- Đối với việc Cơ quan điều tra phong tỏa số tiền 47.345.478 đồng trong tài khoản số: 19032304071011 Ngân hàng T4 của Phạm Thị L. Tại phiên toà, bị cáo L tự nguyện dùng số tiền này để bồi thường cho bị hại. Số tiền 47.345.478 đồng này được khấu trừ vào số tiền tổng thiệt hại của bị hại. Vì vậy, tiếp tục duy trì phong toả để đảm bảo bồi thường cho bị hại.

- Đối với việc kê biên thửa đất số 171, tờ bản đồ số 139; Lô 15 phân khu B, TĐC Bá Tùng mở rộng, diện tích (5x20)m. Địa chỉ tại: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, đứng tên chủ sở hữu: Phạm Thị LLý Ngọc M. HĐXX xét thấy, việc kê biên của Cơ quan cảnh sát điều tra đối với tài sản này có có căn cứ bởi lẽ, tài sản này được hình thành trong thời gian bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội và có sự đồng ý của ông Lý Ngọc M về việc dùng tài sản chung của vợ chồng để bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, cần phải ưu tiên thanh toán cho các giao dịch có đảm bảo có liên quan đến tài sản này (nếu có). Vì vậy, tiếp tục kê biên thửa đất này, sau khi đã thanh toán đầy đủ các khoản của giao dịch đảm bảo, phần còn lại sẽ được thanh toán các khoản nghĩa vụ của bị cáo trong bản án này.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tiếp tục quy trữ trong hồ sơ để lưu gồm:

  • 631 phiếu thu tiền bán vé của Công ty TNHH B trong thời gian từ 01/01/2018 đến 04/3/2021.

  • 04 tập tài liệu gồm: bản báo cáo tổng hợp tồn quỹ, số quỹ tiền mặt, số tiền gửi ngân hàng do Phạm Thị L gửi báo cáo Công ty hàng tháng thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 08 tập tài liệu là số tiền gửi ngân hàng của Công ty B, thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 38 tập tài liệu là bảng công nợ khách hàng của công ty B, thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/3/2021.

  • 508 tờ tài liệu là phiếu thu, ủy nhiệm thu và thông tin về hạch toán thanh

10

toán tiền vé máy bay của Công ty B.

  • 40 tập tài liệu là bảng tổng hợp số liệu chỉnh sửa sổ sách kế toán sau khi nộp báo cao và bảng đổi chiều chênh lệch của số quỹ tiền mặt trên phần mềm kế toán với số quỹ tiến mặt L nộp báo cáo cho công ty, thời gian từ tháng 01/2018 đến ngày 04/5/2021 của Công ty B.

  • 05 tập tài liệu là nhật ký chỉnh sửa sổ quỹ ngoại tệ trong phần mềm kế toán sau khi nộp báo cáo.

  • 04 tập tài liệu là nhật ký chỉnh sửa chứng từ trong số quỹ tiền mặt được trích xuất trên phần mềm kế toán của công ty

  • 04 tập tài liệu thể hiện User của Trần Thị Thanh T1 thực hiện hạch toán khống tiền trong 09 phiếu thu trong khoảng thời gian từ 2018 đến 03/2021.

  • 02 tập tài liệu thể hiện User của Phan Thị Xuân H1 thực hiện chỉnh sửa nhập báo cáo bán đối với 67 phiếu thu tiền thực tế trong năm 2018 và 2019, sau đó hạch toán bỏ ngoài quỹ số tiền 150.930.180 đồng.

[8] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

[8.1] Đối với hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty B thông qua thủ đoạn báo cáo tồn quỹ trên sổ sách ít hơn tồn quỹ thực tế, lập phiếu chi khống, chi không đúng số tiền thực tế của Phạm Thị L: Cơ quan điều tra chưa chứng minh được số tiền cụ thể Phạm Thị L đã chiếm đoạt là bao nhiêu, thời hạn điều tra đã hết. Ngày 15/01/2014, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số: 86/QĐ-VPCQCSĐT ngày 15/01/2024 để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định. HĐXX kiến nghị Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Đ tiếp tục thực hiện các thủ tục tố tụng, điều tra, làm rõ các nội dung trên của bị cáo Phạm Thị L.

[8.2] Đối với Phan Thị Xuân H1: Là Trưởng phòng vé của Công ty TNHH MTV B, người trực tiếp quản lý tài khoản cá nhân đã để bị cáo Phạm Thị L sử dụng tài khoản của H1 chỉnh sửa, làm sai lệch báo cáo kế toán nhằm chiếm đoạt, gây thiệt hại cho Công ty TNHH MTV B số tiền 150.930.180 đồng. Đối tượng Phan Thị Xuân H1 biết bị cáo L thường xuyên sử dụng User của H1 để chỉnh sửa báo cáo kế toán và đã nhiều lần nhận tiền từ bị cáo L có được từ việc chênh lệch giá bán ra cho khách hàng với tổng số tiền 150.930.180 đồng. H1 đã tự nguyện chuyển trả 150.930.180 đồng cho Công ty B. Vì vậy, HĐXX kiến nghị với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân cấp trên đánh giá, xem xét nội dung này theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật, tránh lọt tội, lọt người phạm tội.

[8.3] Đối với Trương Thị Kim D (SN: 1994, trú: K427/19 H, thành phố Đà Nẵng), Huỳnh Vũ Minh T2 (SN: 1991, trú: K T thành phố Đà Nẵng), Trần Nữ Liên T3 (SN: 1994, trú: số A C, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng),

11

Ngô Thị Như Q (SN: 2002, trú: số 38 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) – nhân viên bán vé, không biết và không tham gia với Phạm Thị LTrần Thị Thanh T1 chỉnh sửa số liệu trong phần mềm kế toán để chiếm đoạt tiền của công ty nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo:

[9.1] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: (1.247.275.000 đồng – 800.000.000 đồng) x 3% + 36.000.000 đồng = 49.418.250 đồng.

[9.2] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị LTrần Thị Thanh T1 phạm tội “Tham ô tài sản”.

2. Về điểm, khoản, Điều luật Bộ luật hình sự áp dụng và mức hình phạt đối với từng bị cáo:

2.1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Thị L 16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Thị Thanh T1 3 (Ba) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 587, 589 Bộ luật dân sự:

12

3.1. Buộc bị cáo Phạm Thị L bồi thường cho Công ty TNHH MTV B số tiền 1.247.275.000 đồng.

3.2. Tiếp tục phong tỏa số tiền 47.345.478 đồng trong tài khoản số: 19032304071011 Ngân hàng T4 của Phạm Thị L để bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH MTV B.

3.3. Tiếp tục kê biên thửa đất số 171, tờ bản đồ số 139; Lô 15 phân khu B, TĐC Bá Tùng mở rộng, diện tích (5x20)m. Địa chỉ tại: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, đứng tên chủ sở hữu: Phạm Thị LLý Ngọc M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 820068 do UBND quận N cấp ngày 15/11/2018. Sau khi thanh toán cho các giao dịch có đảm bảo có liên quan đến tài sản này (nếu có), phần còn lại sẽ được thanh toán các khoản nghĩa vụ của bị cáo trong bản án này.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 49.418.250 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Trần Thị Thanh T1)

13

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV CATP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT CATP Đà Nẵng;
  • - Cục THADS TP Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Trần Hữu Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tham ô tài sản (embezzlement of assets)

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Embezzlement of assets)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger