Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 4- 2024

 


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Văn Dựa.

Các Hội thẩm nhân dân.

1/ Ông Nguyễn Ngọc Phương

2/ Bà Nguyễn Ngọc Thủy

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T; giới tính: Nam; sinh năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A D, phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Tự do; họ tên cha: Nguyễn Hữu T1; họ tên mẹ: Chao Thị H; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Nguyễn Ngọc T2 và có 01 con.

Tiền án: Ngày 28/4/2021, bị Toà án nhân dân Quận 5 xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 25/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Ngày 20/7/2016, bị Toà án nhân dân Quận 8 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Ngày 30/11/2017, tái hoà nhập cộng đồng.

Ngày 14/9/2018, bị Toà án nhân dân Quận 8 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Ngày 07/01/2020, tái hoà nhập cộng đồng.

Nhân thân: Ngày 30/9/2014, bị Toà án nhân dân Quận 8 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/4/2015, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/11/2023 (có mặt).

Người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm: 2005;
  2. Địa chỉ: C7/17 F tổ B, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1975;
  4. Địa chỉ: C7/17 F tổ B, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm: 1991;
  2. Địa chỉ: D D, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Bà Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm: 1994;
  4. Địa chỉ: A Â, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  5. Ông Vũ Thanh T4, sinh năm: 1987;
  6. Địa chỉ: A D, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  7. Bà Trần Thụy Thùy L, sinh năm: 1994;
  8. Địa chỉ: G P, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Nguyên đơn dân sự: Hộ kinh doanh Tùng P

địa chỉ: A D, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Thành Đ, sinh năm: 1998;

Địa chỉ: F Hồ N, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH MTV D1.

Địa chỉ:A D, phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: A D, phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 11/11/2023, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hữu T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, bán lấy tiền. Khi T đi bộ ngang nhà địa chỉ C Tổ B, Ấp D, xã B, huyện B do ông Nguyễn Văn T3 làm chủ thì thấy nhà mở cửa sổ nên T đã dùng mỏ lết bẻ gãy 01 thanh kim loại dọc hàng rào sắt và đột nhập vào bên trong. Tiếp đến, T dùng mỏ lếch và tay bẻ khung sắt cửa sổ (do khung đã bị hoen gỉ) rồi đột nhập vào trong nhà thì thấy khoen cửa chính chỉ móc lại bằng ổ khóa (không khoá), trong nhà có dựng 03 xe mô tô và có treo 01 chùm chìa khóa gần đó nên T tiến đến lấy chùm chìa khóa và cắm chìa khóa vào mở thử thì mở được xe mô tô hiệu Honda SCR biển số 70G1-039.88 nên T mở cửa chính rồi dẫn xe mô tô biển số 70G1-039.88 ra dựng trước cổng rào. Tiếp đó, T tiếp tục quay vào trong nhà, vào phòng ngủ thì thấy ông T3 và Nguyễn Quốc H1 (con trai của ông T3) đang ngủ, T lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 đang sạc trên bàn bỏ vào túi quần bên trái; lục tìm lấy trộm 3.000.000 đồng để trong ví da bên trong túi quần đang treo trên tường; lấy trộm trên ghế 01 balo màu đen bên trong có 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh cùng 01 laptop HP Elitebook 1040 G4 của anh H1; sau đó, lấy 01 áo khoác màu đen, sọc trắng có dòng chữ “Lime Orange” của anh H1 mặc vào người. Sau đó, T mang tài sản trộm được đi ra ngoài để lên sàn để chân của xe mô tô biển số 70G1-039.88 rồi điều khiển xe tẩu thoát.

Trên đường đi, T đã vứt chiếc balo ở bên đường nhưng không nhớ chính xác địa diểm. Tiếp đó, T điều khiển xe mô tô biển số 70G1-039.88 đến nhà bạn là chị Trần Thụy T5 L tại địa chỉ G P, phường D, Quận H để gửi nhờ xe mô tô nhưng không liên lạc được với chị L nên T đậu xe mô tô ở đây rồi bỏ đi. Đến 10 giờ cùng ngày, T mang chiếc điện thoại di động OPPO A92 và laptop HP lấy trộm được đến Công ty TNHH MTV D1 (tên biển hiệu là Cửa hàng Đ3) địa chỉ: A D, phường A, Quận H do ông Trần Ngọc H2 là chủ sở hữu, bán cho nhân viên cửa hàng là chị Nguyễn Thị Ngọc M với giá 3.200.000 đồng. Còn điện thoại di động hiệu OPPO A17, T giữ lại sử dụng cho đến ngày 15/11/2023 thì mang đến tiệm C, địa chỉ A D, Phường A, Quận H cầm cho nhân viên tiệm là anh Vũ Thanh T4 với giá 1.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền này, T đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện mất trộm tài sản, ngày 17/11/2023, ông Nguyễn Văn T3 trình báo Công an xã B lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.

Qua kiểm tra dữ liệu camera tại trước địa chỉ C Tổ B, Ấp D, xã B, huyện B và qua truy xét, Công an xã B đã mời Nguyễn Hữu T tại khu vực Phường A, Quận H về trụ sở làm việc, T thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên. Kết quả xét nghiệm cho thấy Nguyễn Hữu T dương tính với ma tuý.

Theo lời khai của Nguyễn Hữu T, Cơ quan Công an đã thu giữ xe mô tô biển số 70G1-039.88 tại địa chỉ G P, Phường D, Quận H, thu giữ điện thoại di động OPPO A92 tại Cửa hàng Đ3; thu giữ điện thoại di động hiệu OPPO A17 tại tiệm C. Riêng chiếc laptop hiệu HP, do chị Nguyễn Thị Ngọc M đã bán lại cho người khác (không rõ lai lịch) nên không thu giữ được.

Kết luận định giá tài sản số 3684/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023 và số 640/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: 01 điện thoại di động OPPO A92 trị giá 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO A17 trị giá 1.990.000 đông; 01 laptop hiệu HP Elitebook 1040G4 trị giá 6.600.000 đồng; 01 xe mô tô Honda SCR biển số 70G1-039.88 trị giá 4.000.000 đồng; 01 cái balo không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 cái áo khoác không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng: không xác định được nhãn hiệu, kiểu dáng, kích thước, thời gian đưa vào sử dụng nên không xác định giá.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Hữu T trộm cắp là 17.090.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn T3, anh Nguyễn Quốc H1, chị Trần Thụy Thùy L, Nguyễn Thị Ngọc M, anh Vũ Thanh T4 và các chứng cứ khác đã thu thập.

Qua làm việc, chị Trần Thụy Thùy L, chị Nguyễn Thị Ngọc M và anh Vũ Thanh T4 khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Hữu T về việc không biêt nguồn gốc các tài sản mà T gửi, bán, cầm là do phạm tội mà có.

Vật chứng thu giữ gồm:

  1. 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc H1.
  2. 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17 đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T3.
  3. 01 cây mỏ lết bằng kim loại (cán bọc nhựa màu đỏ) và 01 cái áo khoác (màu đen) được niêm phong chung, trên gói niêm phong có dâu vân tay ghi tên Nguyễn Hữu T và hình dấu Công an P1, Quận H.
  4. 01 chiếc xe máy hiệu Honda SCR màu đỏ - đen, biển số 70G1-039.88 (số khung BTDH1AXB1000341, số máy 150MHA11A00382) mà ông Nguyễn Văn T3 khai mua lại của 01 người không rõ lai lịch vào đầu năm 2023 nhưng chỉ giao Giấy chứng nhận đăng ký xe, không làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh, xe mô tô này do chị Phạm Thị Thúy H3 đứng tên chủ sở hữu. Chị H3 khai vào năm 2012 đã cho anh Phạm Long Đ1 chiếc xe này, đến năm 2018, anh Đ1 và vợ là Trần Thị Ngọc A đã bán xe này cho 01 người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ.
  5. 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh do camera ghi lại liên quan đến vụ án, chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Đối với vật chứng tại khoản 3, 4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ, chờ xử lý.

Về dân sự: Ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng mà T đã lấy trộm. Anh Nguyễn Quốc H1 yêu cầu T bồi thường 10.500.000 đồng giá trị laptop HP và 500.000 đồng giá trị áo khoác, balo mà T lấy trộm (tổng cộng 11.000.000 đồng). Chị Nguyễn Thị Ngọc M là đại diện uỷ quyền của Công ty TNHH MTV D1 (tên biển hiệu là Cửa hàng điện thoại di động S) và anh Vũ Thành Đ là đại diện uỷ quyền của tiệm cầm đồ Tùng P không yêu cầu T bồi thường.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thì bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 79/CT - VKS ngày 27 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị hại Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông số tiền 3.000.000 đồng và Nguyễn Quốc H1 yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông số tiền 11.000.000 đồng giá trị laptop, balo và áo khoác mà bị cáo đã chiếm đoạt và xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu T tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 271-286); phù hợp với lời khai của bị hại ông Nguyễn Văn T3 (BL: 205-209) và ông Nguyễn Quốc H1 (BL: 195-199) phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai; bản ảnh hiện trường, kết quả định giá tài sản...cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11/11/2023, bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 balo màu đen bên trong có 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh, 01 laptop HP Elitebook 1040 G4, 01 áo khoác màu đen, sọc trắng có dòng chữ “Lime Orange” của ông Nguyễn Quốc H1 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17, 01 chiếc xe máy hiệu Honda SCR màu đỏ - đen, biển số 70G1-039.88 (số khung BTDH1AXB1000341, số máy 150MHA11A00382) và 3.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn T3. Giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Hữu T trộm cắp là 17.090.000 đồng. (Theo Kết luận định giá số 3684/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B).

Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, T6 phồ Hồ Chí M1 đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

  1. [3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang cho nhân dân.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù là chưa tương xứng với hành vi của vị cáo gây ra. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

  1. [4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 28/4/2021, bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 25/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Tuy nhiên, bị cáo có 02 tiền sự, từng bị đưa đi cai nghiện và có nhân thân xấu từng bị xử lý hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với chị Trần Thụy Thùy L, chị Nguyễn Thị Ngọc M và anh Vũ Thanh T4 do không biết các tài sản mà Nguyễn Hữu T gửi, bán, cầm là do phạm tội mà có nên không xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  1. [5] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc H1, nên không xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17 đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T3, nên không xét.

Đối với 01 cây mỏ lết bằng kim loại (cán bọc nhựa màu đỏ) và 01 cái áo khoác (màu đen) được niêm phong chung, trên gói niêm phong có dâu vân tay ghi tên Nguyễn Hữu T và hình dấu Công an P1, Quận H. Đây là công cụ phạm tội và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Honda SCR màu đỏ - đen, biển số 70G1-039.88 (số khung BTDH1AXB1000341, số máy 150MHA11A00382) mà ông Nguyễn Văn T3 khai mua lại của 01 người không rõ lai lịch vào đầu năm 2023 nhưng chỉ giao Giấy chứng nhận đăng ký xe, không làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh, xe mô tô này do chị Phạm Thị Thúy H3 đứng tên chủ sở hữu. Chị H3 khai vào năm 2012 đã cho anh Phạm Long Đ2 chiếc xe này, đến năm 2018, anh Đ1 và vợ là Trần Thị Ngọc A đã bán xe này cho 01 người thu mua phế liệu (không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ. Giao cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh do camera ghi lại liên quan đến vụ án, bảo lưu hồ sơ vụ án.

  1. [6] Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng mà T đã lấy trộm. Nguyễn Quốc H1 yêu cầu T bồi thường 10.500.000 đồng giá trị laptop HP và 500.000 đồng giá trị áo khoác, balo mà T lấy trộm (tổng cộng 11.000.000 đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn T3 và số tiền 11.000.000 đồng cho ông Nguyễn Quốc H1 theo yêu cầu của bị hại. Xét sự thỏa thuận giữa các đương sự là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Chị Nguyễn Thị Ngọc M là đại diện uỷ quyền của Công ty TNHH MTV D1 (tên biển hiệu là Cửa hàng điện thoại di động S) và anh Vũ Thành Đ là đại diện uỷ quyền của tiệm cầm đồ Tùng P không yêu cầu T bồi thường. Hội đồng xét xử ghi nhận.

  1. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • * Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (ba) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
  • * Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Tịch thu tiêu hủy 01 cây mỏ lết bằng kim loại (cán bọc nhựa màu đỏ) và 01 cái áo khoác (màu đen) được niêm phong chung, trên gói niêm phong có dâu vân tay ghi tên Nguyễn Hữu T và hình dấu Công an P1, Quận H.
  • Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B 01 chiếc xe máy hiệu Honda SCR màu đỏ - đen, biển số 70G1-039.88 (số khung BTDH1AXB1000341, số máy 150MHA11A00382) để giải quyết theo thẩm quyền.
  • Bảo lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh do camera ghi lại liên quan đến vụ án.
  • (các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng được lập vào hồi 15 giờ 30 phút 29/02/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
  • Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, Điều 585; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là ông Nguyễn Văn T3 số tiền 3.000.000 (ba triệu)đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc H1 số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng thực hiện ngay khi Bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa; Trại giam T30;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh;
  • - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Văn Dựa

2000013 564207

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger