Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 92 /2024/HS-ST

Ngày 14 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Thu Vân
  2. Bà Lê Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/20243/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thị Băng T; sinh năm 1981; tại Thành phố H; nơi cư trú: 1 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thu H và bà Lê Thị C; có chồng Mai Trần T và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/10/2023 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Chị Cao Thị C1, sinh năm 1990; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: 3 T, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 24 tháng 06 năm 2023, Lê Thị Băng T1 đến Chợ P, Phường G, Quận H để đổi lại quần áo cho con do T1 mua từ trước nhưng không đổi được do cửa hàng nghỉ bán nên T1 đi về nhà. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi T1 đi đến trước số A B, Phường G, Quận H thì thấy có bán các đồ gia dụng nên T1 dựng xe để mua thau nhựa. Lúc này, T1 phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng để trong hộc trái phía trước của xe V1 biển số: 62P1 – 772.48 của chị Cao Thị C1, đậu trước số A B, Phường G, Quận H, không có người trông coi nên T1 nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại bán lấy tiền tiêu xài. T1 đi lại gần xe V, dùng tay thò vào hộc bên trái xe lấy chiếc điện thoại di động nêu trên bỏ vào túi phía trong áo khoác màu xám đang mặc rồi đi ra lấy xe gắn máy đi về được khoảng 02 mét thì chị C1 đuổi theo kéo đuôi xe của T1 lại khiến T1 bị ngã nghiêng xuống đường. Chị C1 hỏi T1 có lấy điện thoại của chị C1 không thì T1 thừa nhận có lấy điện thoại và lấy điện thoại ra trả lại cho chị C1. Sau đó, chị C1 giữ T1 lại và báo cho Công an P1, Quận H đến đưa T1 về trụ sở làm rõ. Tại Công an phường P1, Quận H, T1 thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra làm rõ.

Ngày 23/10/2023, Hội đồng định giá tài sản Quận H có kết luận xác định trị giá của: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng là 6.000.000 đồng.

Ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Thị Băng T1 về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại cơ quan điều tra, T1 khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Dữ liệu điện tử: 01 (một) USB chứa hình ảnh Lê Thị Băng T1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do chị Phạm Thị P giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Cao Thị C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS-Q8 ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thị Băng T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thị Băng T1 về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại đã nhận lại tài sản và xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 24/6/2023, tại trước số A B, Phường G Quận H, Lê Thị Băng T1 đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng của chị Cao Thị C1 trị giá 6.000.000 đồng.

[3] Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Thị Băng T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

[6] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử căn cứ các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị C1. Ngày 28/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Cao Thị C1 là phù hợp quy định pháp luật; Đồng thời, chị Cao Thị C1 không có ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ, xử lý vật chứng này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Dữ liệu điện tử: 01 (một) USB lưu giữ theo hồ sơ vụ án, bên trong có lưu trữ hình ảnh về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Thị C1 xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Xét đây là ý chí tự nguyện và quyền tự định đoạt của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thị Băng T1 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - PC.53 CA TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND Q.8, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Q.8;
  • - CQĐT CAQ.8, TP.HCM;
  • - CQTHAHS Q.8, TP.HCM;
  • - NTG CAQ.8, TP.HCM;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 92 14-5 Lê Thị Băng T 173
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger