TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 92 /2024/HS - ST Ngày 07 / 11 / 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Minh Hoan
- Ông Ngô Văn Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào - tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vương Quang Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Việt A -Sinh năm: 1996
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Phạm Thị N- Sinh năm 1974; Có vợ là Đặng Thị Thu P. Sinh năm 2002
Tiền sự, tiền án: Chưa có
Việt A bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Nguyễn Văn B- Sinh năm: 1993
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và con bà Vũ Thị V, sinh năm 1966; Có vợ là Cao Thị H. Sinh năm 1998; Có 03 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2024
Tiền sự, tiền án: Không
Bính bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Nguyễn Văn T1- Sinh năm: 1993
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 và con bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1975; Có vợ là Nguyễn Thị M. Sinh năm 1993; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022
Tiền sự, tiền án: Không
Thái bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Phạm Văn T2 -Sinh năm: 1998
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Văn K, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968
Tiền sự, tiền án: Không
Trường bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Vũ Kim K1- Sinh năm: 1998
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Vũ Kim H2, sinh năm 1971 và con bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1974; Có vợ là Vũ Thị T3. Sinh năm 1999; Có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023
Tiền sự, tiền án: Không
K1 bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Nguyễn Văn T4- Sinh năm: 1984
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1957; Có vợ là Vũ Thị Y. Sinh năm 1986; Có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018
Tiền sự, tiền án: Không
T4 bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Trịnh Văn L-Sinh năm: 1997
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trịnh Văn M1, sinh năm 1970 và con bà Vương Thị T6, sinh năm 1971; Có vợ là Hoàng Thị T7. Sinh năm 2001; Có 2 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023
Tiền sự, tiền án: Không
Lực bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Trần Xuân H4- Sinh năm: 1999
Tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự Do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn C, sinh năm 1977 và con bà Phạm Thị H5, sinh năm 1978; Có vợ là Vũ Thị Minh N2. Sinh năm 2003; Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022
Tiền sự, tiền án: Không
H4 bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 đến ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thị xã M. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị N- SN 1974
- Chị Nguyễn Thị M - SN 1993
- Chị Hoàng Thị T7- SN 2004
Đều có HKTT: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
( Đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Việt A, sinh năm 1996, Trần Xuân H4, sinh năm 1999; Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; Phạm Văn T2, sinh năm 1998; Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993; Nguyễn Văn T4, sinh năm 1984; Trịnh Văn L, sinh năm 1997; Vũ Kim K1, sinh năm 1998 đều ở tổ dân phố N, phường N, thị xã M là những người cùng địa phương và quen biết nhau.
Khoảng 14 giờ ngày 24/7/2024, khi Việt A đang ở nhà thì lần lượt có T2, T1, B đến nhà chơi. Do trời sắp mưa nên Việt A rủ mọi người ngồi đánh phỏm vui thì tất cả cùng đồng ý. Cả 4 ngồi xuống chiếu nhựa trải sẵn ở phòng khách nhà Việt A và dùng bộ bài tú lơ khơ có sẵn để chơi. Khi chơi được một lúc thì Việt A rủ mọi người “thôi đánh liêng ăn tiền” (ý Việt A rủ mọi người đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng) thì tất cả đồng ý.
Luật chơi đánh liêng như sau: Mỗi người góp 10.000 đồng tiền gà vào giữa chiếu bạc, người chia bài cầm bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài, số bài thừa bỏ ra ngoài. Người chia bài được tố trước số tiền tùy ý nhưng không quá 50.000 đồng và vứt tiền ra giữa chiếu, nếu không tố thì úp bài sau đó lần lượt những người chơi khác theo chiều ngược kim đồng hồ cho đến người chơi cuối cùng. Nếu có ai tố theo thì ngửa bài so điểm với nhau, bài được tính lần lượt từ nhỏ nhất là 2 là lớn nhất là A, quy định sáp là to nhất tức là 03 quân bài giống nhau (ví dụ 03 quân A là to nhất), ai sáp cao nhất thì thắng, tiếp đến là liêng có 03 quân bài liên tiếp nhau, liêng đồng hoa có 03 quân bài cùng chất, sau bài liêng là bài đĩa tức là có 03 quân đầu người J, Q, K, tiếp đến là tính điểm quy định ba quân bài cộng lại là 10, 20, 30 thì là 0 điểm còn trên 10, 20, 30 tính điểm phần đơn vị 09 điểm là cao nhất (ví dụ 789 cộng lại được là 24 thì tính là 4 điểm), A là 01 điểm lần lượt đến 9 là 9 điểm, còn 10, J, Q, K được tính không điểm, nếu bằng điểm nhau thì tính theo chất theo thứ tự giảm dần là rô, cơ, tép, bích trong ba quân bài ai có quân bài chất to thì thắng. Sau khi so bài nếu ai thắng thì sẽ được tất cả số tiền gà và tiền đã tố của những người chơi để giữa chiếu. Ai thắng thì được chia bài ván tiếp theo.
Quá trình Việt A, T2, B, T1 đánh bạc thì có lần lượt K1, T4, L, H4 đến nhà Việt A và cũng tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng đánh bạc đến 15h30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã M cùng Công an phường N kiểm tra phát hiện tại phòng khách nhà V 08 đối tượng đánh đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếu nhựa đã cũ, trên chiếu có 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, đã cũ và tổng số tiền 15.560.000 đồng (trong đó: thu tại chiếu bạc 2.780.000 đồng, thu trên người các đối tượng số tiền 12.780.000 đồng) 8 điện thoại di động các loại và 01 ví da (có bảng kê kèm theo)
Quá trình điều tra xác định: Trong tổng số tiền 15.560.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ thì có 5.860.000 đồng các đối tượng đã sử dụng vào việc đánh bạc (gồm thu dưới chiếu nơi các đối tượng ngồi đánh bạc 2.780.000 đồng, trên người các đối tượng 3.080.000 đồng tiền sử dụng trong việc đánh bạc). Còn số tiền 9.700.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc, gồm (V: 500.000 đồng, T1: 8.500.000 đồng và L: 700.000đ). Hiện toàn bộ số tiền trên cơ quan điều tra đang gửi tại kho bạc nhà nước thị xã M (Có bảng kê chi tiết kèm theo).
Đối với những tài sản gồm 01 ví giả da, 8 điện thoại các loại mà Cơ quan điều tra đã thu giữ, quá trình điều tra đã làm rõ những tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.
Đối với các vật chứng khác gồm 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếu cói đôi đã cũ là vật chứng mà các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Công an thị xã M.
Quá trình điều tra xác định chỉ có 8 bị cáo nêu trên thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ngày 24/7/2024 tại nhà của Nguyễn Việt A. Quá trình đánh bạc không có ai thu hồ, không cắt cử người canh gác, không có ai cho các bị cáo vay tiền để đanh bạc. Người thân trong gia đình Việt A không có nhà và không biết việc các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc. Các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn Lvà Trần Xuân H4 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 80/ CT - VKSMH ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 về tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1,Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn Lvà Trần Xuân H4nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, hoàn toàn nhận tội Đánh bạc.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị với Hội đồng xét xử.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 đều phạm tội “Đánh bạc".
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho các bị cáo đúng pháp luật. Việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung các bị cáo đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xác định việc điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, đồng thời phù hợp khách quan với các chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có trong hồ sơ.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Với động cơ mục đích vụ lợi vào khoảng từ 14 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 24/7/2024, tại nhà của Nguyễn Việt A ở tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Các đối tượng Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 đã có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.860.000đ thì bị phát hiện bắt quả tang.
Trong vụ án này Việt A là người chuẩn bị công cụ, địa điểm và rủ các bị cáo khác cùng đánh bạc trái phép nên có vai trò đầu. Các bị cáo còn lại đều là người thực hành tích cực
Hành vi như đã nêu trên của Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B,Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 đã phạm tội “Đánh bạc”.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B,Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1,Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 theo tội danh và điều luật nói trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến nếp sống văn minh, đã đánh bạc trái phép nhằm thu lời bất chính, là một trong những tệ nạn đang được Nhà nước và nhân dân đấu tranh, bài trừ ra khỏi đời sống xã hội.
Trong vụ án này các bị cáo đánh bạc có đồng phạm cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, động cơ tư lợi cá nhân, mục đích muốn kiếm tiền bằng việc đánh bạc nên các bị cáo đã cố ý phạm tội bằng cách đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh liêng với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.860.000đ thì bị phát hiện bắt quả tang lập biên bản vụ việc và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Do đó cả 08 bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 đều phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự, tội phạm của các bị cáo đều đã hoàn thành nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Do đó cần xét xử nghiêm minh, xử phạt các bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành con người tốt cho xã hội.
Để đánh giá vai trò từng bị cáo trong vụ án này phải xem đến bị cáo Nguyễn Việt A là người chuẩn bị công cụ, địa điểm và rủ các bị cáo khác cùng đánh bạc trái phép nên có vai trò đầu, bị cáo đã tạo điều kiện thuận lợi giúp các bị cáo khác lao con đường phạm tội. Lẽ ra phải xử nghiêm và bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, nhưng xét đến bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa, hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất giản đơn, nhất thời phạm tội, bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, gia đình bị cáo có thân nhân là người công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nên áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự, xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú, quản lý giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách và hình phạt của bị cáo sẽ cao hơn các bị cáo khác.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1 và bị cáo Phạm Văn T2 là những người đến tham gia đánh bạc ngay từ đầu cho đến khi bị bắt, các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội tích cực. Thời gian và số tiền các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngang nhau và nhiều hơn các bị cáo khác. Lẽ ra phải xử nghiêm và bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, nhưng xét đến các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất giản đơn, nhất thời phạm tội, các bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, gia đình các bị cáo T1 và T2 có thân nhân là người công với cách mạng, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 (bị cáo T1 và T2 được hưởng thêm khoản 2) điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nên áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự, xử cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú, quản lý giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1 và bị cáo Phạm Văn T2 mức án ngang bằng nhau và sẽ thấp hơn bị cáo Nguyễn Việt A nhưng sẽ cao hơn các bị cáo khác.
Đối với các bị cáo Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và bị cáo Trần Xuân H4 là những người đến tham gia đánh bạc sau, nhưng các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội tích cực. Thời gian và số tiền các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngang nhau. Lẽ ra phải xử nghiêm và bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, nhưng xét đến các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất giản đơn, nhất thời phạm tội, các bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, gia đình các bị cáo L và H4 có thân nhân là người công với cách mạng, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 (bị cáo L và H4 được hưởng thêm khoản 2) điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nên áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự, xử cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú, quản lý giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách và xử phạt các bị cáo Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và bị cáo Trần Xuân H4 mức án ngang bằng nhau.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo khai tại phiên tòa là các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành án nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếu nhựa nhiều màu đã cũ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cho tịch thu hủy bỏ
Đối với số tiền 15.560.000 đồng mà cơ quan điều tra thu giữ. Trong đó có số tiền 5.860.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại của bị cáo Nguyễn Việt A 500.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Văn T1 8.500.000 đồng; Bị cáo Trịnh Văn L 700.000 đồng mà cơ quan điều tra thu giữ không liên quan đến việc các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ trả lại cho các bị cáo để sử dụng.
Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nay sẽ buộc các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1,Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 phải chịu một số tiền nhất định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 đều phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Việt A
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt A 01 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 (bị cáo T1 và bị cáo T2 thêm khoản 2) Điều 51; Điều 58; Điều 17; Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T2 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 (bị cáo L và bị cáo H4 thêm khoản 2) Điều 51; Điều 58; Điều 17; Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Kim K1 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T4 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt: Bị cáo Trần Xuân H4 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 cho UBND phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nơi các bị cáo cư trú, quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,b,c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu thủy bỏ 01 chiếu nhựa nhiều màu đã cũ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.860.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt A số tiền 500.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 8.500.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn L số tiền 700.000 đồng để sử dụng vì không liên quan đến việc các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn T2, Vũ Kim K1, Nguyễn Văn T4, Trịnh Văn L và Trần Xuân H4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 92/2024/HS - ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 92/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt Anh cùng đồng phạm Đánh bạc
