TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HS-PT Ngày 31/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm
Các Thẩm phán:Ông Thái Văn Hà
Ông Phan Minh Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Duy Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1985 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và bà Từ Thị T1, sinh năm 1968; chồng Trần Văn H, sinh năm 1973; con: 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; tiền án: chưa, tiền sự: Ngày 09/6/2023 bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản với số tiền 4.000.000 đồng( chưa chấp hành).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 06/09/2023 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 08/09/2023. Đến ngày 06/11/2023 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay, bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Ông Trần Đ, sinh năm 1955; Trú tại: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.(vắng mặt)
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Đ: Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1983. Trú tại: Tổ A, khối E, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt)
- Đặng Thị B, sinh năm 1957; Trú tại: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vợ chồng ông Trần Đ1 và bà Nguyễn Thị Q đều đã chết có hai người con ruột là ông Trần C (sinh năm 1940, chết) và ông Trần Đ (sinh năm 1955), ở thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Vợ chồng ông Trần C và bà Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1940) có con ruột là ông Trần Văn H (sinh năm 1973) đều ở thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Khi ông Đ1, bà Q còn sống thì ông Đ cưới vợ sinh sống xây nhà cạnh phía đông nhà cha mẹ ruột của mình, ông Đ đã xây dựng khu chuồng chăn nuôi, tường rào bằng gạch ngăn cách hai nhà. Sau khi ông Đ1, bà Q chết thì nhà cũ bỏ không ai ở. Đến khoảng năm 2008, ông H kết hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ L, sau đó vợ chồng bà L về cất nhà, sinh sống tại vị trí nhà cũ của cha mẹ ông Đ. Vợ chồng ông H, bà L và bà H2 không có ý kiến gì về việc ông Đ đã xây khu chuồng chăn nuôi và tường rào.
Đến năm 2022, bà L yêu cầu địa chính xã B đo đạc lại diện tích đất của gia đình thì phát hiện ông Đ đã lấn diện tích 76,8m² đất sang phần đất của bà H2 nên ông H có đơn báo cáo UBND xã B yêu cầu giải quyết tranh chấp đất nhưng các bên không thống nhất. Đến ngày 22/12/2022, bà L đã có hành vi đập phá làm hư hỏng bức tường phía tây của nhà ông Đ và đã bị Công an huyện T Quyết định xử phạt hành chính đối với bà L về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản với số tiền là 4.000.000 đồng. Do bực tức việc ông Đ không trả lại đất nên Lời đã nãy sinh ý định đập phá tài sản của ông Đ để lấy lại đất, lúc nào rãnh thì Lời đập, mỗi ngày đập một ít, có lúc đập liên tục nhiều ngày, có lúc có ngày đập ngày không. Với phương thức nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 13/06/2023 đến ngày 08/09/2023 L đã dùng cái trang cào, dùng cây đập phá làm hư hỏng các bức tường gạch và dỡ mái tôn khu chuồng chăn nuôi của gia đình ông Đ nên ngày 14/06/2023 ông Đ có đơn báo cáo công an xã B giải quyết.
Theo kết quả định giá tài sản ngày 04/08/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 (Một) bức tường xây bằng 01 lớp gạch, loại gạch ống 06 lỗ, không tô, không trát, đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 2,15m, thấp nhất là 0,35m, tường dày 0,07m. Đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 1,8m, chiều dài nhất là 3,6m.
- - Khu chuồng chăn nuôi có 03 chuồng bị đập phá, các vách tường của các chuồng này đều xây bằng gạch ống loại 06 lỗ, 01 lớp gạch, không tô, không trát, các chuồng xây liền kề nhau các chuồng được đánh số thứ tự là A,B,C:
- + Chuồng A: Có kích thước là (2,2 x 2,3)m. Tường phía bắc của chuồng đã bị đập còn lại phân gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 1,7m, thấp nhất là 0,4m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 1,3m, chiều dài nhất là 1,5m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 0,7m, thấp nhất là 0,37m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,33m, chiều dài nhất là 2,3m.
- + Chuồng B: Có kích thước là (2,15 x 2,05)m. Tường phía bắc của chuồng đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 1,7m, thấp nhất 0,65m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 1,05m, chiều dài nhất là 0,9m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 0,7m, thấp nhất là 0,37m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,37m, chiều dài nhất là 2,15m.
- + Chuồng C: Có kích thước là (1,8 x 2)m. Tường phía bắc của chuồng đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 1,2m, thấp nhất là 0,65m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,53m, chiều dài nhất là 1,2m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập còn lại phần gạch của tường ban đầu với chiều cao nhất của tường đo được là 0,7m, thấp nhất 0,35m, tường dày 0,07m, đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,35m, chiều dài nhất là 02m.
Trị giá tài sản bị thiệt hại là 2.389.320 đồng.
Theo kết quả định giá ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - Tường rào phía tây được xây bằng gạch nung, màu đỏ, loại 06 lỗ, xây bằng 02 lớp gạch đã bị đập, đo vùng bị đập có chiều dài nhất là 14,4m, cao nhất 2,1m, tường dày 18cm. Tường được xây dựng từ năm 1995 xây 01 lớp gạch, đến năm 2010 xây lớp gạch thứ hai.
Đối với tường rào gạch phía tây vào ngày 20/12/2022, bà L đập phá một phần với kích thước đo được chiều dài nhất là 8,5m, cao nhất 1,6m. Đến ngày 08/05/2023, Hội đồng định giá xã B đã tiến hành định giá một phần tường bị phá (có tài liệu kèm theo).
- - Khu chuồng chăn nuôi có 03 chuồng bị đập phá, các vách tường của các chuồng này đều xây bằng gạch ống loại 06 lỗ, 01 lớp gạch, không tô, không trát. các chuồng xây liền kề nhau, được đánh số thứ tự là A,B,C. Chuồng được xây dựng từ năm 1986.
- + Chuồng A: Có kích thước là (2,4 x 2,4)m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập tiến hành đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,52m, chiều dài nhất là 1,44m, tường dày 0,08m.
- + Chuồng B: Có kích thước là (2,4 x 2,3)m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập tiến hành đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,38m, chiều dài nhất là 1,25m, tường dày 0,09m. Tường phía đông của chuồng đã bị đập tiến hành đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,42 m, chiều dài nhất là 1,63m, tường dày 0,08m.
- + Chuồng C: Có kích thước là (2,4 x 2) m. Tường phía tây của chuồng đã bị đập tiến hành đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,14m, chiều dài nhất là 01m, tường dày 0,09m. Tường phía đông của chuồng đã bị đập tiến hành đo vùng bị đập có chiều cao nhất là 0,5m, chiều dài nhất là 1,62m, tường dày 0,18 m.
Trị giá tài sản bị thiệt hại là 5.114.020 đồng.
Tổng giá trị bị thiệt hại là: 7.503.340 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cái trang cào, cán bằng tre hình trụ tròn dài 2 m, lưỡi bằng sắt, dạng cong hình chữ nhật, kích thước (0,5 x 0,15) m, đã qua sử dụng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 15/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho ông Trần Đ và bà Đặng Thị B số tiền 7.503.340 đồng (Bảy triệu năm trăm lẻ ba nghìn ba trăm bốn mươi đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L kháng cáo xin khắc phục hậu quả đối với số tiền 7.503.340đồng và xin được hưởng án treo.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 bị hại ông Trần Đ kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:
Do mâu thuẫn tranh chấp đất nên ngày 22/12/2022, Nguyễn Thị Mỹ L đã có hành vi đập phá tài sản làm hư hỏng bức tường phía tây của nhà ông Đ và đã bị Công an huyện T ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo L về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản với số tiền là 4.000.000 đồng. Bị cáo L không dừng lại mà với phương thức, mỗi ngày bị cáo L đập một ít, có thời điểm bị cáo L đập liên tục nhiều ngày, có thời điểm không, nhưng không có lần nào bị cáo đập phá tài sản trị giá thiệt hại từ 2.000.000 đồng trở lên. Trong khoảng thời gian từ ngày 13/06/2023 đến ngày 08/09/2023, bị cáo L đã có hành vi dùng cái trang cào, cây gỗ đập phá các tường gạch, tháo dỡ mái tôn khu chuồng chăn nuôi của vợ chồng ông Trần Đ, bà Đặng Thị B ở cùng địa phương, làm hư hỏng, gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị là 7.503.340 đồng. Do đó, bản án Hình sự số 18/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết tài sản mình đập phá là của ông Đ, bà B nhưng cố ý thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo và áp dụng điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Bị cáo kháng cáo xin khắc phục hậu quả đối với số tiền 7.503.340đồng cho người bị hại nhưng bị cáo lại không khắc phục, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay mặc dù bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị cáo cũng không có mặt tại phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ có tình tiết giảm nhẹ nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của người bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng: Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích tại mục [3], Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L của Bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định về phần hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản Điều 51; Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L và không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Trần Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/09/2023 đến ngày 06/11/2023.
- Về án phí hình phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 200.000 đồng.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thắm |
Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 92/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
