Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-PT

Ngày: 09 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam

Ông Nguyễn Quang Trung

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 101/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo Hoàng Thị V bị xét xử sơ thẩm về tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị V đối với bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXPT-HS ngày 15/01/2024 đối với:

Bị cáo kháng cáo: Hoàng Thị V;

tên gọi khác: không; sinh ngày 26 tháng 6 năm 1978 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: khối I, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Hoàng Văn N và bà: Dương Thị H; chồng: Trần Bá T, sinh năm 1969; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/12/2018 bị Công an phường Q, thành phố V xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong năm 2019; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023 được trả tự do. Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2023 đến nay, vắng mặt;

Trong vụ án còn có các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm số 85/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/7/2023, tại trước Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Minh K số 32 đường Q, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Đội điều tra tổng hợp, Công an thành phố V tiến hành kiểm tra phát hiện Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề. Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố V, L và V xin đầu thú và khai nhận còn có hành vi tham gia đánh bạc cùng với Lê Thị Hồng N1. Sau đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Thị Hồng N1. Ngày 10 và 11 tháng 7 năm 2023, các đối tượng Trần Thị L1 và Trần Văn H1 lần lượt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V xin đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề với Trần Thị Nhật L và Lê Thị Hồng N1. Quá trình điều tra, xác định: Căn cứ vào kết quả của giải thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc quay thưởng vào lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày để tính việc thắng thua. Tiền thắng, thua thì được thanh toán với nhau vào ngày hôm sau bằng hình thức đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Hành vi tham gia đánh bạc của các bị cáo cụ thể như sau:

  1. Hành vi đánh bạc giữa Trần Thị L1 và Trần Thị Nhật L:

    Ngày 07/7/2023, Trần Thị L1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 350022965953250, bên trong gắn sim số thuê bao "0942.139.755” truy cập ứng dụng Telegram, đăng nhập tài khoản Telegram “L1” đăng ký bởi số điện thoại “0942.139.xxx” (Chủ thuê bao là Trần Thị L1) nhắn tin đến tài khoản T1 “Nhinh Nhinh” đăng ký bởi số điện thoại “0944.227.xxx” của Trần Thị Nhật L để đánh số lô, số đề (L sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI: 354870092298056, bên trong có sim số thuê bao “0862.507.978”). Trần Thị L1 đánh 1.500 điểm số lô (Một điểm lô 23.000 đồng), tổng số tiền đánh số lô là 34.500.000 đồng; đánh 84.000.000 đồng tiền số đề; đánh 5.000.000 đồng tiền số ba càng. Tổng số tiền đánh số lô, số đề và ba càng là 123.500.000 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng).

    Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, Trần Thị L1 trúng thưởng 580 điểm số lô, cụ thể: 200 điểm số lô “78”, 100 điểm số lô “79”, 100 điểm số lô “92”, 100 điểm số lô “57”, 100 điểm số lô “79”, số tiền trúng thưởng là 48.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Trần Thị L1 và Trần Thị Nhật L sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là: 123.500.000 đồng + 48.000.000 đồng = 171.500.000 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng). Do sau khi đánh bạc bị bắt nên L1 và L chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.

  2. Hành vi đánh bạc giữa Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V:

    Ngày 07/7/2023, Trần Thị Nhật L ngồi ở đối diện khách sạn M, đường Q, thành phố V ghi số lô, số đề cho khách qua đường. Sau đó, L tổng hợp các tin nhắn đánh lô đề do Trần Thị L1 đánh (L cắt lại 45 điểm số lô tương ứng với số tiền đánh lô 1.035.000 đồng của L1 đánh để hưởng lợi) và số lô, số đề của khách đánh với L, sau đó, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI: 354870092298056, bên trong gắn sim số thuê bao “0862.507.978” nhắn tin đến số điện thoại “0363.461.xxx” của Hoàng Thị V để đánh số lô, số đề (V sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI: “359303067079983”, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0363.461.689”). Cụ thể: L đánh 1.530 điểm số lô (Mỗi điểm 23.000 đồng), số tiền đánh số lô là 35.190.000 đồng; đánh 86.727.000 đồng tiền số đề; đánh 5.636.000 đồng tiền số ba càng; đánh 52 điểm lô xiên (Mỗi điểm 10.000 đồng), số tiền đánh lô xiên là 520.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, số đề, ba càng và lô xiên là 128.073.000 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền L ghi số lô, số đề cho khách đánh là 5.608.000 đồng (Năm triệu sáu trăm linh tám nghìn đồng).

    Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, L trúng thưởng 580 điểm số lô, cụ thể: 200 điểm số lô “78”, 95 điểm số lô “79”, 95 điểm số lô “92”, 95 điểm số lô “57”, 95 điểm số lô “79”, số tiền trúng thưởng số lô là 46.400.000 đồng; trúng thưởng 1.050.000 đồng số đề “76”. Tổng số tiền trúng thưởng số lô, số đề là 47.450.000 đồng. Trong đó, số tiền khách đánh với L trúng thưởng là 1.050.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là: 128.073.000 đồng + 47.450.000 đồng = 175.523.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng). Do sau khi đánh bạc bị bắt nên giữa Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V chưa thanh toán tiền thắng, thua cho nhau.

  3. Hành vi đánh bạc giữa Hoàng Thị V và Lê Thị Hồng N1:

    Ngày 07/7/2023, Hoàng Thị V ngồi ở khu vực vỉa hè trước Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Minh K số 52, đường Q, phường Q, thành phố V ghi số lô, số đề cho khách qua đường đánh. Sau đó, V tổng hợp các tin nhắn đánh lô đề do Trần Thị Nhật L chuyển (V cắt lại 55 điểm số lô tương ứng với số tiền đánh lô 1.265.000 đồng, cắt lại 278.000 đồng tiền đánh số đề của L chuyển để hưởng lợi) với các số lô, số đề ghi được, sau đó, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI: “359303067079983", bên trong lắp thẻ sim số thuê bao “0363.461.689” nhắn tin chuyển bảng đánh lô đề đến số điện thoại “0328.758.xxx” của Lê Thị Hồng N1 (N1 sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, số IMEI: 354452061937137, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0328.758.397”). Cụ thể: V đánh 1.580 điểm số lô (Mỗi điểm 23.000 đồng), số tiền đánh số lô là 36.340.000 đồng; đánh 86.757.000 đồng tiền số đề; đánh 5.636.000 đồng tiền số đề ba càng; đánh 52 điểm lô xiên, số tiền đánh lô xiên là 520.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, số đề, ba càng và lô xiên là 129.253.000 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu hai trăm năm mươi ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền V ghi số lô, số đề cho khách đánh là 2.723.000 đồng (Hai triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng).

    Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, V trúng thưởng 605 điểm số lô, cụ thể: 200 điểm số lô “78”, 90 điểm số lô “79”, 05 điểm số lô “90”, 20 điểm số lô “12”, 20 điểm số lô “40”, 90 điểm số lô “92”, 90 điểm số lô “57”, 90 điểm số lô “79”, số tiền trúng thưởng số lô là 48.400.000 đồng; trúng thưởng 4.200.000 đồng tiền số đề “76”. Tổng số tiền trúng thưởng số lô, số đề là 52.600.000 đồng. Trong đó, số tiền khách đánh cho V trúng thưởng là 7.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Hoàng Thị V và Lê Thị Hồng N1 sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là: 129.253.000 đồng + 52.600.000 đồng = 181.853.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ba nghìn đồng). Do sau khi đánh bạc bị bắt nên giữa Hoàng Thị V và Lê Thị Hồng N1 chưa thanh toán tiền thắng, thua cho nhau.

  4. Hành vi đánh bạc giữa Lê Thị Hồng N1 và Trần Văn H1:

    Ngày 07/7/2023, Lê Thị Hồng N1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, số IMEI: 354452061937137, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0328.758.397” nhắn tin đến số điện thoại “0389.595.xxx” của Trần Văn H1 để đánh số lô, số đề (H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, bên trong có sim số thuê bao “0389.595.236” để nhận tin nhắn và sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng bạc, số IMEI: 355351082025097, gắn sim số 096.864.6xxx để liên lạc trao đổi với N1). Cụ thể: N1 đánh 75 điểm số lô (Mỗi điểm 23.000 đồng), số tiền đánh số lô là 1.725.000 đồng; đánh 30.000.000 đồng tiền số đề. Tổng số tiền đánh lô đề là 31.725.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

    Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, N1 không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền Lê Thị Hồng N1 và Trần Văn H1 sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là 31.725.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của từng bị cáo trong ngày 07/7/2023 phải chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:

  • Trần Thị L1 thực hiện một lần đánh bạc với tổng số tiền 171.500.000 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
  • Trần Thị Nhật L thực hiện một lần đánh bạc với tổng số tiền: 171.500.000 đồng +5.608.000 đồng + 1.050.000 đồng = 178.158.000 đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu một trăm năm mươi tám nghìn đồng).
  • Hoàng Thị V thực hiện một lần đánh bạc với tổng số tiền: 175.523.000 đồng +2.723.000 đồng +7.100.000 đồng = 185.346.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
  • Lê Thị Hồng N1 thực hiện một lần đánh bạc với tổng số tiền: 181.853.000 đồng + 31.725.000 đồng = 213.578.000 đồng (Hai trăm mười ba triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
  • Trần Văn H1 thực hiện một lần đánh bạc với tổng số tiền 31.725.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị V phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo đồng phạm trong vụ án và xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 27/4/2024, bị cáo Hoàng Thị V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, nội dung và hình thức đơn kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bác kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị V; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị V 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Bị cáo Hoàng Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Hoàng Thị V vắng mặt. Theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác, đã được thâm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận:

    Ngày 07/7/2023, Trần Thị Nhật L ngồi ghi số lô, số đề ở đối diện khách sạn M, đường Q, thành phố V cho khách qua đường. Sau đó, L tổng hợp các tin nhắn đánh lô đề, sử dụng điện thoại di động số thuê bao “0862.507.978” nhắn tin đến số điện thoại “0363.461.xxx” của Hoàng Thị V để đánh số lô, số đề, ba càng và lô xiên với tổng số tiền 128.073.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, L trúng số lô là 46.400.000 đồng; trúng thưởng 1.050.000 đồng số đề “76”. Tổng số tiền trúng thưởng số lô, số đề là 47.450.000 đồng. Trong đó, số tiền khách đánh với L trúng thưởng là 1.050.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là: 128.073.000 đồng + 47.450.000 đồng = 175.523.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng). Sau khi đánh bạc bị bắt nên giữa Trần Thị Nhật L và Hoàng Thị V chưa thanh toán tiền thắng, thua cho nhau.

    Sau khi nhận được tin nhắn V tổng hợp các tin nhắn đánh lô đề do Trần Thị Nhật L chuyển (V cắt lại 55 điểm số lô tương ứng với số tiền đánh lô 1.265.000 đồng, cắt lại 278.000 đồng tiền đánh số đề của L chuyển để hưởng lợi) với các số lô, số đề ghi được, sau đó, sử dụng điện thoại di động số thuê bao “0363.461.689” nhắn tin chuyển bảng đánh lô đề đến số điện thoại “0328.758.xxx” của Lê Thị Hồng N1 số thuê bao “0328.758.397” với tổng số tiền đánh số lô, số đề, ba càng và lô xiên là 129.253.000 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu hai trăm năm mươi ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền V ghi số lô, số đề cho khách đánh là 2.723.000 đồng (Hai triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng).

    Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 07/7/2023, V trúng thưởng số lô, số đề là 52.600.000 đồng. Trong đó, số tiền khách đánh cho V trúng thưởng là 7.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Hoàng Thị V và Lê Thị Hồng N1 sử dụng để đánh bạc trong ngày 07/7/2023 là: 129.253.000 đồng + 52.600.000 đồng = 181.853.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ba nghìn đồng). Sau khi đánh bạc bị bắt nên giữa Hoàng Thị V và Lê Thị Hồng N1 chưa thanh toán tiền thắng, thua cho nhau. Số tiền bị cáo Hoàng Thị V đánh bạc trong ngày 07/7/2023 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 175.523.000 đồng + 2.723.000 đồng + 7.100.000 đồng = 185.346.000 (Một trăm tám mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Thị V về tội Đánh bạc theo điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Xét kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt:

    Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đánh giá vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Mặc dù các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền khác nhau. Bị cáo Hoàng Thị V trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có công với cách mạng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc năm 2019, nay lại tiếp tục phạm tội đánh bạc, nên cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo với mức án 36 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và đúng quy định của pháp luật.

    Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần bị cáo đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không cung cấp tài liệu gì thêm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bác kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị V, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Hoàng Thị V.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị V 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Hoàng Thị V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND thành phố Vinh;
  • - VKSND thành phố Vinh;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Vinh;
  • - Chi Cục THADS thành phố Vinh;
  • - Bị cáo Hoàng Thị Vân;
  • - UBND P. Đội Cung;
  • - Lưu HSVA, Tòa hình sự, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 92/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSPT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger