Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/8/2024

“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991

    HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt

  • - Bị đơn: Anh Phạm Như C, sinh năm 1990

    HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại T, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung :

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Anh Phạm Như C và chị Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn ngày 27/07/2015 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.

    Theo chị M trình bày: Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc cho đến khi sinh con thứ hai, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã nhau. Đầu năm 2023, anh C sang Hugary và tại đang ở T, từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, không ly hôn nhưng sống ly thân. Đầu năm 2024, anh C có liên lạc về cho chị M, đề nghị vợ chồng ly hôn. Nay, chị M thấy vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

    Theo anh C trình bày tại bản tự khai ngày 24/7/2024: Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau khi sinh người con thứ hai cuộc sống của vợ chồng trở nên khó khăn hơn. Từ năm 2021, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Đầu năm 2023, anh C đi sang Hungary làm việc với lý do anh C chán ghét cuộc sống vợ chồng hiện tại. Trước khi đi nước ngoài trên danh nghĩa vẫn là vợ chồng, nhưng tình cảm đã rạn nứt, không ly hôn nhưng sống ly thân. Sau khi đi nước ngoài thời gian đầu có liên lạc, sau đó giữa 2 vợ chồng ít liên lạc lại với nhau. Đầu năm 2024, anh C có liên lạc lại với chị M đề nghị chị M làm đơn ly hôn, giữa vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau, người nào chỉ biết lo riêng cuộc sống người đó, tình cảm vợ chồng không còn. Tình trạng hôn nhân của vợ chồng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Mục đích tiến tới hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng vợ chồng không đạt được. Anh C không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, việc tiếp tục hôn nhân trên giấy tờ chỉ làm khổ hai người và ảnh hưởng đến tương lai của vợ chồng, cũng như của hai con. Nay, chị Nguyễn Thị M làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh Phạm Như C đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

  2. Về con chung:

    Vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Như Thảo M1, sinh ngày 23/02/2016 và Phạm Như Bảo T, sinh ngày 05/11/2021.

    Chị M có nguyện vọng giao 2 con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam chị M nuôi con thay anh C và không yêu cầu anh C cấp dưỡng, sau khi anh C về nước chị M giao con cho anh C nuôi dưỡng và chị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Anh C có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 2 con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian anh C chưa về nước, anh C nhờ chị M chăm sóc, nuôi dưỡng hai con thay cho anh.

  3. Về tài sản chung, nợ chung:

    Chị M, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 107, 117,123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Điều 28, 37, 39, 464, 469, 474, 475, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Phạm Như C; về con chung: Giao con chung Phạm Như Thảo M1, sinh ngày 23/02/2016 và Phạm Như Bảo T, sinh ngày 5/11/2021 cho anh Phạm Như C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con. Tạm thời giao cháu Thảo M1, cháu Bảo T cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi anh C về nước; về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí buộc chị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    1. Tại Công văn số 658/PA08-Đ1, ngày 11/7/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Phạm Như C thể hiện, anh C đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 01/02/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh C đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

    2. Tại bản tự khai ngày 24/7/2024 của anh Phạm Như C có xác nhận của Đ tại T, anh C đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh C.

  2. Về nội dung:

    1. Về quan hệ hôn nhân:

      Anh Phạm Như C và chị Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn ngày 27/07/2015 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị M, anh C đều thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị M, anh C không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Phạm Như C.

    2. Quan hệ con chung:

      Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Như Thảo M1, sinh ngày 23/02/2016 và Phạm Như Bảo T, sinh ngày 05/11/2021. Chị M, anh C thỏa thuận sau khi ly hôn giao 2 con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam chị M nuôi con thay anh C và không yêu cầu anh C cấp dưỡng, sau khi anh C về nước chị M giao con cho anh C nuôi dưỡng và chị M không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sự tỏa thuận của đương sự không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, đảm bảo sự nuôi dưỡng, phát triển của con về mọi mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Phạm Như Thảo M1, sinh ngày 23/02/2016 và Phạm Như Bảo T, sinh ngày 05/11/2021 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam chị M nuôi con thay anh C. Anh C không yêu cầu chị M phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không buộc chị M phải cấp dưỡng nuôi con. Chị M có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.

    3. Về tài sản chung, nợ chung:

      Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Như C không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

    4. Về án phí:

      Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83,123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Điều 28, 37, 39, 464, 469, 474, 475, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Phạm Như C.

  2. Về con chung:

    Giao con chung Phạm Như Thảo M1, sinh ngày 23/02/2016 và Phạm Như Bảo T, sinh ngày 05/11/2021 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị M có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.

  3. Về án phí:

    Buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000004 ngày 3/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

  4. Quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Phạm Như C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bùi Văn Hồng Nguyễn Thái LBùi Minh T1

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã nơi đăng ký KH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger