|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HNGĐ-PT Ngày 14-8-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.
Các Thẩm phán: Bà Quách Thanh Bình,
Bà Phạm Thị Thu Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án sơ thẩm số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3410/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 11697/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tô Văn P, sinh năm 1964. (có đơn xin vắng mặt)
Thường trú: Số I T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở hiện nay: Nhà không số, ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Nguyễn Danh N, sinh năm 1978.
Thường trú: Số I T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966. (có mặt)
Thường trú: Số I T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bị đơn – bà Nguyễn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2023, biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Tô Văn P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C tự nguyện sống chung từ năm 1983 nhưng đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 317, quyển số 02/2002 của Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 30/12/2002. Cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà đã nhiều lần tự hòa giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị C. Hiện ông và bà C đã sống ly thân từ tháng 4/2022 đến nay.
Về con chung: Có 4 con chung tên Tô Ngọc Đ, Tô Ngọc H, Tô Thị Ngọc T và Tô Ngọc T1 (đã thành niên) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà C có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông và bà C không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản trình bày ý kiến ngày 14/11/2023, ngày 09/01/2024 và trong quá trình xét xử, bị đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xác nhận quá trình chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung đúng như lời trình bày của ông P.
Bà không đồng ý ly hôn vì bà chưa làm gì có lỗi với ông P, bà luôn hết mình vì chồng vì con. Ông P thường không tôn trọng bà, nhiều lần xúc phạm và bạo hành bà nhưng vì con cháu nên bà vẫn cam chịu để sống chung. Từ nhiều năm nay, ông P đã nhiều lần ngoại tình, phản bội bà nhưng bà vẫn tha thứ và lo lắng, quan tâm chăm sóc sức khỏe cho ông nên giờ bà vẫn muốn duy trì cuộc sống như vậy dù cho ông muốn chung sống với ai. Hơn bốn mươi năm là vợ chồng, không còn tình cũng còn nghĩa nên bà không đồng ý ly hôn với ông P. Bà mong vợ chồng có thể hòa giải được với nhau, bà không cần ông P phải san sẻ chi phí hay gánh nặng gia đình với bà, chỉ cần ông P để cho bà có tinh thần thoải mái chăm sóc cho gia đình. Đồng thời, ông P nay đã lớn tuổi, trong người lại có nhiều bệnh nên bà vẫn muốn sống chung để có điều kiện chăm sóc sức khỏe cho ông.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8 quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Tô Văn P.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Văn P được ly hôn với bà Nguyễn Thị C.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C như sau:
- Về con chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C có 4 người con chung tên Tô Ngọc Đ (nam), sinh ngày 10/7/1984; Tô Ngọc H (nam), sinh ngày 24/4/1986; Tô Thị Ngọc T (nữ), sinh ngày 31/12/1989 và Tô Ngọc T1 (nam), sinh ngày 27/12/1992. Các con chung đều đã thành niên và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C xác định có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C cùng khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/02/2024, bà Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, bà không đồng ý ly hôn với ông P.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông P có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà C không đồng ý ly hôn vì bà còn thương ông P, muốn hàn gắn để gia đình đoàn tụ.
Kiểm sát viên phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của bà C. Đề nghị y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị C còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Theo đơn kháng cáo, bà C kháng cáo về quan hệ hôn nhân theo hướng sửa bản án sơ thẩm, bà không đồng ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong quá trình chung sống ông P và bà C phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống nên giữa ông P và bà C không thấu hiểu lẫn nhau, không tìm được tiếng nói chung, cả hai không giao tiếp với nhau nhiều, sinh hoạt riêng đã hơn 10 năm nay. Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, ông P và bà C đều vi phạm điều này của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015.
Những mâu thuẫn phát sinh trong thời gian dài, ông P và bà C đã không cùng nhau giải quyết, làm cho đời sống gia đình không hòa hợp, vợ chồng không có sự gắn bó, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến mục đích hôn nhân của ông P và bà C không đạt được, việc ly hôn là cần thiết, cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.
Bà C xác nhận vợ chồng cũng có mâu thuẫn, ông P nhiều lần xúc phạm và bạo hành bà nhưng bà cam chịu và cho qua vì bà còn thương chồng thương con, không muốn gia đình tan vỡ. Sự việc dẫn đến việc ly hôn là do ông P ngoại tình, muốn tự do chung sống với người phụ nữ khác nên muốn ly hôn với bà. Kèm theo đơn kháng cáo của bà là hình ảnh và tin nhắn chứng minh cho việc ngoại tình của ông P, bà hoàn toàn không có lỗi trong việc ly hôn. Bà xác định không còn tình cảm với ông P nhưng không đồng ý ly hôn, muốn duy trì cuộc sống như hiện tại vì không còn tình thì còn nghĩa, về già vợ chồng có thể nương tựa nhau mà sống. Bà C không đưa ra được giải
pháp nào khả thi nào để vợ chồng có thể về hàn gắn tình cảm để ông P có thể quay về chung sống với bà nên việc yêu cầu đoàn tụ của bà là không có khả năng thực hiện.
Từ những nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của bà C, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ như đã nhận định ở trên.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo là bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử :
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Tô Văn P.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Văn P được ly hôn với bà Nguyễn Thị C.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C như sau:
- Về con chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C có bốn người con chung tên Tô Ngọc Đ (nam), sinh ngày 10/7/1984; Tô Ngọc H (nam), sinh ngày 24/4/1986; Tô Thị Ngọc T (nữ), sinh ngày 31/12/1989 và Tô Ngọc T1 (nam), sinh ngày 27/12/1992. Các con chung đều đã thành niên và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C xác định có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Ông Tô Văn P và bà Nguyễn Thị C cùng khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tô Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0036218 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P đã nộp đủ tiền án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0036686 ngày 07/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C đã nộp đủ.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Tô Văn P yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị C
