|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 92/2024/DS-ST Ngày: 30/9/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Lương
Ông Phan Văn Hoạt
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thuỷ - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1970; Nơi cư trú: TDP L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1972 và ông Nguyễn C, sinh năm: 1971; cùng có nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn trình bày: Từ năm 2021 đến thời điểm tháng 3/2024 (âm lịch) vợ chồng bà Trương Thị L, ông Nguyễn C thường xuyên mua sò của bà Nguyễn Thị Bích P để làm thức ăn nuôi tôm hùm với số lượng lớn, hai bên thoả thuận bằng miệng với nhau mua bán thanh toán bằng hình thức gối đầu để tạo điều kiện thuận lợi cho nhau.
Đến ngày 29/3/2024 (lịch dương) bà P và bà L tiến hành chốt công nợ với nhau, cụ thể vào ngày 29/3/2024 dương lịch bà L xác nhận công nợ hiện còn chưa thanh toán tiền là 4.208.200.000 đồng (bốn tỉ hai trăm linh tám triệu hai trăm nghìn đồng). Bà L cam kết vào ngày 29/3/2024 (âm lịch) thanh toán toàn bộ số tiền nêu trên cho bà P. Tuy nhiên, bà L không thực hiện đúng cam kết, từ ngày 29/3/2024 âm lịch đến nay bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà P đã nhiều lần gọi điện thoại nhắc nợ đồng thời tới nhà bà L yêu cầu thanh toán nợ nhưng bà L không thanh toán còn tỏ thái độ thách thức. Do đó bà P khởi kiện vợ chồng bà L, ông C.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 4.208.200.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 08/5/2024 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm.
Ngày 8/7/2024 nguyên đơn có bản tự khai bổ sung, rút lại số tiền gốc mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn là 4.008.200.000 đồng. Do bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
* Bị đơn bà Trương Thị L trình bày: Gia đình bà Trương Thị L và ông Nguyễn C làm nghề nuôi tôm hùm và mua bán sò làm thức ăn nuôi tôm từ 9 đến 10 năm nay. Bà L có giao dịch mua thức ăn cho tôm hùm (sò) giữa bà và nguyên đơn, mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn là bạn hàng với nhau lâu năm. Giữa bà L và bà P mua bán dưới hình thức như sau: Nguyên đơn giao sò cho bị đơn xong bị đơn thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn nhưng thời gian thanh toán được thỏa thuận là 01 tháng trở lại. Do đó, tính đến ngày 24/01/2024 bị đơn còn nợ của nguyên đơn tổng số tiền là 2.608.200.000 đồng (hai tỷ sáu trăm linh tám triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền 1.600.000.000 đồng trong xác nhận nợ ngày 29/3/2024 là do nguyên đơn yêu cầu bị đơn viết thêm bổ sung vào để nguyên đơn làm giấy tờ vay ngân hàng nên bị đơn viết theo đề nghị của nguyên đơn chứ bị đơn không nợ của nguyên đơn số tiền này. Bị đơn xác định chữ ký, chữ viết trong giấy nợ ngày 29/3/2024 là của bị đơn.
Đối với khoản nợ là 2.608.200.000 đồng (hai tỷ sáu trăm linh tám triệu hai trăm nghìn đồng) bị đơn đã thanh toán nhiều lần cho nguyên đơn với tổng số tiền là 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng). Do đó, nay bị đơn chỉ còn nợ của nguyên đơn là 2.158.200.000 đồng. Bị đơn xin được trả dần hàng tháng cho nguyên đơn mỗi tháng 50.000.000 đồng. Bị đơn chỉ cung cấp lời khai và không có tài liệu nào khác cung cấp cho Toà án.
* Bị đơn ông Nguyễn C: Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn C được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai cho Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã tuân theo đúng pháp luật. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của mình là không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa xét xử của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đã rút và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Do bị đơn cư trú tại phường C, thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, nên đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Đối với số tiền nợ gốc: Căn cứ vào “Giấy nợ” lập các ngày 29/3/2024 do bà Trương Thị L đã ghi và ký nhận do nguyên đơn cung cấp, lời khai của nguyên đơn và bị đơn bà L, kết quả xác minh của Tòa án, có cơ sở xác định: Bà Trương Thị L, ông Nguyễn C làm nghề nuôi trồng thủy sản tại địa phương. Bà Nguyễn Thị Bích P có bán cho vợ chồng bà Trương Thị L, ông Nguyễn C tài sản là sò làm thức ăn nuôi tôm hùm. Hình thức mua bán các bên thỏa thuận miệng. Ngày 29/3/2024 bà L có lập giấy xác nhận còn nợ của bà Nguyễn Thị Bích P tổng số tiền là 4.208.200.000 đồng. Theo nội dung xác nhận, bà L cam kết có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản tiền nêu trên cho bà P vào ngày 29/3/2024 (âm lịch) tức ngày 08/5/2024 dương lịch.
[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Giao dịch mua bán sò giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích P với bị đơn bà Trương Thị L, ông Nguyễn C là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, đối tượng của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật nên giao dịch phát sinh hiệu lực. Tuy giấy xác nhận nợ chỉ có bà L ký nhưng thông qua kết quả xác minh và lời khai của các bên đủ cơ sở xác định bà L cùng ông C đã xác lập và thực hiện giao dịch mua bán sò với bà P là có thật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ giao hàng nên bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo cam kết.
[2.3] Về số tiền còn nợ, bị đơn cho rằng trong số tiền 4.208.200.000 đồng theo xác nhận thì có 1.600.000.000 đồng được viết thêm để nguyên đơn vay tiền ngân hàng chứ thực chất không phải là khoản nợ và đã trả số nợ 450.000.000 đồng nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để chứng minh nên không chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xác định số nợ tại thời điểm xác nhận nợ ngày 29/3/2024 là 4.208.200.000 đồng là đúng. Theo xác nhận của nguyên đơn, bị đơn đã trả 200.000.000 đồng nên còn nợ lại số tiền 4.008.200.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tiền gốc.
[2.4] Đối với số tiền lãi thì hội đồng xét xử thấy rằng, đến hạn trả nợ theo thỏa thuận trong xác nhận nợ ngày 29/3/2024 là ngày 29/3/2024 (âm lịch) tức là ngày 08/5/2024 dương lịch. Tuy nhiên bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn có quyền yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán là phù hợp với Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự nên chấp nhận. Theo đó, tiền lãi được tính từ ngày chậm thanh toán là ngày 09/5/2024 đến khi xét xử sơ thẩm là 174 ngày/365 ngày x 10%/năm x 4.008.200.000 đồng = 191.075.000 đồng. Tổng số nợ bị đơn phải trả là 4.199.275.000 đồng.
[3] Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 357, 430, 440 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền 200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với số tiền nêu trên.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Trương Thị L và ông Nguyễn C phải trả cho bà Nguyễn Thị Bích P số tiền còn nợ tổng cộng là 4.199.275.000 đồng (bốn tỷ, một trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) trong đó bao gồm 4.008.200.000 đồng tiền gốc và 191.075.000 đồng tiền lãi.
3. Án phí:
- - Bị đơn bà Trương Thị L và ông Nguyễn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 112.119.000 đồng (Một trăm mười hai triệu, một trăm mười chín nghìn đồng).
- - H lại cho bà Nguyễn Thị Bích P số tiền 56.140.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23, số 0004761 ngày 26/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
4. Quy định:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 92/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ năm 2021 đến thời điểm tháng 3/2024 (âm lịch) vợ chồng bà Trương Thị Liên, ông Nguyễn Công thường xuyên mua sò của bà Nguyễn Thị Bích Phượng để làm thức ăn nuôi tôm hùm với số lượng lớn, hai bên thoả thuận bằng miệng với nhau mua bán thanh toán bằng hình thức gối đầu để tạo điều kiện thuận lợi cho nhau. Đến ngày 29/3/2024 (lịch dương) bà Phượng và bà Liên tiến hành chốt công nợ với nhau, cụ thể vào ngày 29/3/2024 dương lịch bà Liên xác nhận công nợ hiện còn chưa thanh toán tiền là 4.208.200.000 đồng (bốn tỉ hai trăm linh tám triệu hai trăm nghìn đồng). Bà Liên cam kết vào ngày 29/3/2024 (âm lịch) thanh toán toàn bộ số tiền nêu trên cho bà Phượng. Tuy nhiên, bà Liên không thực hiện đúng cam kết, từ ngày 29/3/2024 âm lịch đến nay bà Liên vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà Phượng đã nhiều lần gọi điện thoại nhắc nợ đồng thời tới nhà bà Liên yêu cầu thanh toán nợ nhưng bà Liên không thanh toán còn tỏ thái độ thách thức. Do đó bà Phượng khởi kiện vợ chồng bà Liên, ông Công. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 4.208.200.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 08/5/2024 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm. Ngày 8/7/2024 nguyên đơn có bản tự khai bổ sung, rút lại số tiền gốc mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn là 4.008.200.000 đồng. Do bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng)
