Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 92/2024/DS-ST

Ngày: 10/9/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,

thế chấp"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành, ông Trần Mai khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 18/01/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-DS ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1). Địa chỉ: Số H, đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty cổ phần M1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Tiến D1 – Trưởng bộ phận xử lý nợ và bà Bùi Thị T – Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: Tầng C, V1, tòa nhà T, đại lộ L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Theo Văn bản ủy quyền số 182/2024/UQ-MARS.VPB ngày 18/3/2024). Ông D1 vắng mặt, bà T có mặt.

Bị đơn: Ông Trần Xuân T1, sinh năm 1975 và bà Trần Thị D2, sinh năm 1974. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở nước ngoài. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Đức P, sinh năm 1943 và bà Trần Thị S, sinh năm 1951; địa chỉ: Xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 vay vốn của Ngân hàng TMCP V (V1), chi nhánh N số tiền 2.240.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng) và thẻ tín dụng hạn mức: 112.000.000 đồng.

Ngày 29/12/2023, V1 đã bán các khoản nợ của ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 cho Công ty TNHH Một Thành Viên M1 (M) – Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, Số I D, Phường D, Quận C, TP Hà Nội theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-MARS ngày 29/12/2023 và các Phụ lục đính kèm. Theo thỏa thuận tại các Hợp đồng mua bán nợ này, V1 đã chuyển giao toàn bộ quyền chủ nợ của khoản nợ nêu trên cho M, M kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2, bao gồm cả các quyền và nghĩa vụ tại cơ quan Tòa án theo quy định pháp luật.

Ngày 16/4/2024, Công ty TNHH MTV M1 đã được chuyển đổi thành Công ty cổ phần M1, với mã số doanh nghiệp, trụ sở của công ty giữ nguyên.

Ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 vay vốn tại V1 thông qua các Văn kiện tín dụng cụ thể sau:

* Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022.

Số tiền vay: 2.240.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 300 tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất số 82, tờ bản đồ 69, tại địa chỉ: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là: 10.6%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được Bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi, tính trên số dư lãi chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả nhưng không quá 10%/năm.

* Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 21/6/2022.

Hạn mức đề nghị: 112.000.000 đồng. Loại thẻ: StepUp Credit Card. Lãi suất: Theo quy định của V1. Mục đích: Tiêu dùng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: “Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 69, địa chỉ tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 385154, số vào sổ cấp GCN: CS02167 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 14/9/2020; Ngày 17/5/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2, theo Hợp đồng thế chấp số LN2206216043664 ngày 23/6/2022, số công chứng 5365 quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 23/6/2022”.

Quá trình thực hiện các Hợp đồng nêu trên, ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 15/5/2023 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kèm theo.

Tạm tính đến ngày 10/9/2024, ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 còn nợ Công ty Cổ phần M1 số tiền theo Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 là: 3.027.149.168 đồng, trong đó nợ gốc: 2.240.000.000 đồng, nợ lãi: 740.807.890 đồng, lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng và Thẻ tín dụng số 175-P-9140028 số tiền: 208.002.259 đồng trong đó nợ gốc: 108.073.605 đồng, nợ lãi: 92.079.659 đồng và lãi chậm trả: 7.848.995 đồng.

Tổng số tiền ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đã thanh toán được đến ngày 10/9/2024 là: 148.995.104 đồng, trong đó số tiền gốc đã trả: 0 đồng, số tiền lãi đã trả: 148.995.104 đồng.

Vì vậy, Công ty cổ phần M1 yêu cầu Toà án giải quyết:

  • - Buộc ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 số tiền tạm tính đến ngày 10/9/2024 là: 2.878.154.064 đồng, trong đó nợ gốc: 2.240.000.000 đồng, nợ lãi: 591.812.786 đồng, nợ lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng và Thẻ tín dụng số 175-P-9140028 số tiền: 208.002.259 đồng, trong đó nợ gốc: 108.073.605 đồng, nợ lãi: 92.079.659 đồng và lãi chậm trả: 7.848.995 đồng.
  • - Yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận mà ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đã ký kết với V1 theo Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 cho đến ngày ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 thực tế thanh toán hết toàn bộ khoản nợ cho Công ty cổ phần M1.
  • - Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ, cụ thể tài sản là: “Toàn bộ quyền sử dụng đất của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 385154, số vào sổ cấp GCN: CS02167 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 14/9/2020; Ngày 17/5/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2, cụ thể tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 69, địa chỉ tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Theo Hợp đồng thế chấp số LN2206216043664 ngày 23/6/2022, số công chứng 5365 quyển số: 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 23/6/2022”.
  • - Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ thì ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 cho đến khi thực tế thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
  • - Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 cho đến khi thực tế thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ.

Tại phiên tòa, Công ty cổ phần M1 đã rút yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 trả nợ Thẻ tín dụng số 175-P-9140028 số tiền 208.002.259 đồng, trong đó nợ gốc: 108.073.605 đồng, nợ lãi: 92.079.659 đồng và lãi chậm trả: 7.848.995 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đều vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại Công an xã Đ, huyện Y thì ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên hiện nay, ông T1, bà D2 đều không có mặt tại địa phương. Căn cứ Công văn số 28863/QLXNC-P3 ngày 31/10/2023 của Cục Q Bộ C1 thì ông Trần Xuân T1 đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối cùng xuất cảnh ngày 21/7/2023 qua cửa khẩu N1, bà Trần Thị D2 đã xuất nhập cảnh 05 lần, lần cuối cùng xuất cảnh ngày 21/7/2023 qua cửa khẩu N1, hiện cả hai ông bà chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Tòa án đã tống đạt các Thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... cho ông Trần Đức P (bố đẻ ông T1) và bà Trần Thị S (chị gái bà D2) nhưng ông P, bà S không nhận. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản trên tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông T1, bà D2 và trụ sở UBND xã Đ nhưng ông T1, bà D2 vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Trần Đức P và bà Trần Thị S trình bày: Ông Trần Đức P là bố đẻ của ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị S là chị gái của bà Trần Thị D2. Ông T1, bà D2 hiện đang ở nước ngoài và có thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng ông bà không biết địa chỉ cụ thể của ông T1, bà D2 ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Bà S cam kết sẽ thông báo cho ông T1, bà D2 biết việc Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông T1, bà D2 trả nợ tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho Công ty cổ phần M1 nợ gốc và lãi tính đến ngày 10/9/2024 là 2.878.154.064 đồng, trong đó số tiền nợ gốc 2.240.000.000 đồng, nợ lãi: 591.812.786 đồng, nợ lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng. Trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 giữa Ngân hàng TMCP V và ông T1, bà D2. Nếu trong trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị buộc ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty cổ phần M1. Ngược lại thì đề nghị Công ty trả cho anh T1, chị D2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu trả nợ tiền thẻ tín dụng và buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về chi phí xem xét thẩm định, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa hai bên, trong trường hợp không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì đề nghị xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Ông T1, bà D2 có địa chỉ cư trú tại xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Căn cứ thông tin do Cục Q, Bộ C1 cung cấp tại Công văn số 28863/QLXNC-P3 ngày 31/10/2023 thì ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đã xuất cảnh ngày 21/7/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp” là có căn theo quy định theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Tại thời điểm ký kết hợp đồng ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An và hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây nhưng đã xuất cảnh đi nước ngoài từ năm 2023, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nên được xác định là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T1, bà D2.

[3] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về yêu cầu trả nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022:

[3.1.1] Về nợ gốc: Căn cứ vào nội dung của Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh N và ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2. Hội đồng xét xử thấy rằng về hình thức cũng như nội dung của hợp đồng các bên đã ký kết là hoàn toàn tự nguyện và thỏa thuận không trái với các quy định tại Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 463 Bộ luật Dân sự nên Hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật với các bên đã ký kết. Sau khi ký kết hợ đồng, ông T1, bà D2 đã nhận đủ số tiền vay 2.240.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 không trả nợ gốc, chỉ trả lãi được 148.995.104 đồng. Đến hạn thanh toán, vợ chồng ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 không thanh toán nợ, kể cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng TMCP V là vi phạm các cam kết, thỏa thuận trong Hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông T1, bà D2 đều không có mặt và cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác thể hiện về việc đã trả hết số tiền nợ gốc. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 trả số tiền nợ gốc 2.240.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466 Bộ luật Dân sự. Ngày 29/12/2023, Ngân hàng TMCP V đã bán khoản nợ trên của ông T1, bà D2 cho Công ty TNHH Một thành viên M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS ngày 29/12/2023 và Phụ lục kèm theo. Ngày 16/4/2024, Công ty TNHH Một thành viên M1 đã được chuyển đổi thành Công ty cổ phần M1. Do đó, cần buộc ông T1, bà D2 phải trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền nợ gốc 2.240.000.000 đồng.

[3.1.2] Về lãi suất: Theo quy định tại Điều 1 Hợp đồng cho vay số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 các bên đã ký kết thì lãi suất cho vay trong hạn là 10.6%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được Bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi, tính trên số dư lãi chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả nhưng không quá 10%/năm. Như vậy, lãi suất mà các bên thỏa thuận là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Lãi suất đã được Công ty cổ phần M1 tính toán cụ thể chi tiết tại bảng kê tính lãi đến ngày xét xử như sau: nợ lãi: 740.807.890 đồng, lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng, tổng cộng tiền lãi là 787.149.168 đồng. Quá trình vay vốn, ông T1, bà D2 đã trả cho Ngân hàng được 148.995.104 đồng tiền lãi trong hạn. Số tiền lãi chưa trả còn lại là 638.154.064 đồng, trong đó: nợ lãi: 591.812.786 đồng, nợ lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng. Việc tính toán trên phù hợp với nội dung các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần M1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V buộc ông T1, bà D2 phải trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền lãi tính đến ngày xét xử là 638.154.064 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà ông T1, bà D2 phải trả cho Công ty cổ phần M1 là 2.878.154.064 đồng, trong đó số tiền nợ gốc 2.240.000.000 đồng, nợ lãi: 591.812.786 đồng, nợ lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng.

[3.2] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, thấy rằng: Để bảo đảm cho khoản vay, ông T1, bà D2 đã thế chấp thửa đất số 82, tờ bản đồ số 69, diện tích 207,8m², địa chỉ tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 385154 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 14/9/2020; Ngày 17/5/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2, theo Hợp đồng thế chấp số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 được ký kết giữa ông T1, bà D2 với Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh N – phòng giao dịch chợ V2. Xét thấy, việc thế chấp là trên cơ sở tự nguyện. Hợp đồng thế chấp sau khi ký kết đã được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y. Vì vậy, Hợp đồng thế chấp này đã đảm bảo theo đúng các trình tự, thủ tục quy định tại Điều 317, 319 Bộ luật Dân sự và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên ký kết. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định thửa đất số 82 là đất trống, không có công trình trên đất, ranh giới thửa đất ổn định, không thay đổi, không phát sinh người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Chính quyền địa phương xác nhận đất không có tranh chấp với các hộ liền kề xung quanh. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần M1 về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ để thu hồi nợ.

[3.3] Đối với yêu cầu của công ty cổ phần M1 về việc buộc ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 trả khoản nợ thẻ tín dụng số 175-P-9140028 số tiền: 208.002.259 đồng, trong đó nợ gốc: 108.073.605 đồng, nợ lãi: 92.079.659 đồng và lãi chậm trả: 7.848.995 đồng. Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần M1 đã rút yêu cầu này. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi kiện trên của Công ty cổ phần M1 là tự nguyện nên cần chấp nhận.

[5] Đối với yêu cầu trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 cho đến khi thực tế thanh toán hết toàn bộ các khoản nợ không thuộc thẩm quyền của Tòa án nên không xem xét.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[7] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 292, 295, 299, 317, 318, 319, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần M1:

  1. Buộc ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 số tiền nợ tính đến ngày 10/9/2024 là 2.878.154.064 đồng (Hai tỷ, tám trăm bảy mươi tám triệu, một trăm năm mươi tư ngàn, không trăm sáu mươi tư đồng), trong đó nợ gốc 2.240.000.000 đồng, nợ lãi: 591.812.786 đồng, nợ lãi chậm trả là: 46.341.278 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xét xử sơ thẩm (10/9/2024), ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Trường hợp ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 82, tờ bản đồ số 69, diện tích 207,8m², địa chỉ tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 385154 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 14/9/2020; Ngày 17/5/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2, theo Hợp đồng thế chấp số LN2206216043664 ngày 23/6/2022 để thu hồi nợ.
  4. Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi phát mại không đủ trả nợ thì ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị D2 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
  5. Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần M1 về việc buộc ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 trả khoản nợ thẻ tín dụng số 175-P-9140028 số tiền: 208.002.259 đồng trong đó nợ gốc: 108.073.605 đồng, nợ lãi: 92.079.659 đồng và lãi chậm trả: 7.848.995 đồng
  6. Về án phí:

    Ông Trần Xuân T1, bà Trần Thị D2 phải chịu 89.563.081 đồng (T2 mươi chín triệu, năm trăm sáu mươi ba ngàn, không trăm tám mươi mốt đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 40.974.277 đồng (Bốn mươi triệu, chín trăm bảy mươi tư ngàn, hai trăm bảy mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001212 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Công ty cổ phần M1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS h.Yên Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP, Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mai Khanh

Trần Xuân Thành

Nguyễn Thị Thu Từ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp

  • Số bản án: 92/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp Ngân hàng V - Trần Xuân T, Trần Thị D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger