Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/DS-ST

Ngày: 05 - 12 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Đầy
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên

Ngày 05/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2024/QĐST-DS ngày 30/10/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C1; Địa chỉ: Số A, Phố L, H, H, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Phi H – Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C1, tỉnh Đ (Theo văn bản ủy quyền số 124A/QĐ-NHCS ngày 13/9/2020); Địa chỉ: 1, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đ (Có mặt).

- Bị đơn: 1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963 (Vắng mặt);

2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn Ngân hàng C1 có ông Huỳnh Phi H đại diện trình bày:

Ngày 17/6/2020, bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C có vay của ngân hàng C1 (Sau đây gọi là Ngân hàng) số tiền 40.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, thời hạn vay là 60 tháng, định kỳ trả nợ là 06 tháng/lần với lãi suất là 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay. Lãi được trả định kỳ vào ngày 17 hàng tháng; Khoản vay thứ hai ngày 17/11/2021, bà Đ và ông C vay số tiền 20.000.000 đồng thời hạn vay là 60 tháng, định kỳ trả nợ là 06 tháng/lần với lãi suất là 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay. Lãi được trả định kỳ vào ngày 17 hàng tháng.

Bà Đ và ông C trả lãi được đến ngày 17/5/2023 thì không trả nữa. Đối với số tiền vay 40.000.000 đồng, bà Đ và ông C trả được 9.541.868 đồng, còn nợ lại 5.322.000 đồng; Đối với số tiền vốn vay 20.000.000 đồng bà Đ và ông C trả được 2.648.659 đồng, còn nợ lại 2.868.000 đồng. Tổng cộng bà Đ và ông C còn nợ lại số tiền lãi là 8.190.000 đồng.

Nay Ngân hàng Chính sách xã hội yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C trả số tiền vốn vay 60.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 05/12/2024 là 8.190.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 68.190.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng đã ký cho đến khi bà Đ và ông C trả hết nợ vay cho Ngân hàng.

Đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2024/QĐ-BPKCTT ngày 30/7/2024, của Tòa án nhân dân huyện C là phong tỏa số tiền số tiền 66.054.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) của bà Đ và ông C tại cơ quan Thi hành án để đảm bảo thi hành án.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C: Vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán đảm bảo đúng quy định của pháp luật, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, sắp xếp tư cách tham gia tố tụng của đương sự đúng quy định, thu thập đầy đủ chứng cứ cho việc giải quyết vụ án, về Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa có đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm; Đối với nguyên đơn đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật; Bị đơn bà Đ và ông C vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án là chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C trả số tiền vốn vay 60.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 05/12/2024 là 8.190.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 68.190.000 đồng. Đề nghị tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật cần giải quyết: Theo đơn khởi kiện thì Ngân hàng yêu cầu bà Đ và ông C trả số tiền vay và lãi phát sinh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ dân sự, tranh chấp hợp đồng vay theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Theo hợp đồng đã ký kết thì bà Đ và ông C đang cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đ nên căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền.

1.3 Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C dù được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét việc Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C trả khoản tiền vay và lãi, Hội đồng xét thấy như sau:

Căn cứ vào sổ vay vốn và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay với nội dung: Ngày 17/6/2020, bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C có vay của Ngân hàng số tiền 40.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, thời hạn vay là 60 tháng, định kỳ trả nợ là 06 tháng/lần với lãi suất là 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay. Lãi được trả định kỳ vào ngày 17 hàng tháng; Ngày 17/11/2021, bà Đ và ông C vay số tiền 20.000.000 đồng thời hạn vay là 60 tháng, định kỳ trả nợ là 06 tháng/lần với lãi suất là 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay.

Trên cơ sở các tài liệu Ngân hàng cung cấp được thể hiện trong hồ sơ đều có chữ ký và chữ viết họ tên của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để thông báo cho bà Đ và ông C biết nội dung Ngân hàng đang khởi kiện nhưng bà Đ và ông C không đến Tòa án cũng không có văn bản ý kiến phản hồi về việc này.

Do đó, đủ cơ sở xác định việc bà Đ và ông C có vay tại Ngân hàng số tiền vốn tổng cộng 60.000.000 đồng như đại diện Ngân hàng trình bày.

Tiền lãi đối với số tiền vốn vay 40.000.000 đồng từ ngày 17/5/2023, theo lãi suất 8,25%/năm (0,6875%/tháng) đến ngày 05/12/2024 là 5.322.000 đồng; T1 lãi đối với số tiền vốn vay 20.000.000 đồng từ ngày 17/5/2023, theo lãi suất 9%/năm (0,75%/tháng) đến ngày 05/12/2024 là 2.868.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi đến ngày 05/12/2024 là 8.190.000 đồng.

Xét việc bà Đ và ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đ và ông C trả khoản nợ còn thiếu và khoản lãi phát sinh là có cơ sở chấp nhận. Do đó cần buộc bà Đ và ông C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng vốn gốc 60.000.000 đồng và 8.190.000 đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 05/12/2024. Ngoài ra bà Đ và ông C còn phải trả lãi tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.

[2.2] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên cần duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án.

[2.3] Xét việc bà Đ và ông C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là cố tình dấu địa chỉ vì:

Theo hồ sơ vay vốn tại thời điểm thỏa thuận với Ngân hàng thì bà Đ và ông C có địa chỉ liên hệ là ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đ.

Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho bà Đ và ông C theo địa chỉ nêu trên để thông báo cho bà Đ và ông C biết về nội dung mà Ngân hàng đang yêu cầu nhưng bà Đ và ông C cũng không liên lạc với Tòa án.

Theo điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn trường hợp cung cấp đúng địa chỉ của người bị kiện:

a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú, làm việc gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị đơn.

Theo quy định trên cho thấy mặc dù bà Đ và ông C biết khoản nợ vay của mình chưa thanh toán xong nhưng lại bỏ đi nơi khác không thông báo cho Ngân hàng biết là cố tình dấu địa chỉ và tránh né việc trả nợ nên khi Tòa án đã thực hiện mọi biện pháp tống đạt, dù bà Đ và ông C không có mặt tại Tòa án xem như đã từ bỏ quyền lợi của mình liên quan đến việc trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu về khoản vay mà Ngân hàng đang kiện. Do đó Hội đồng xét xử vẫn buộc bà Đ và ông C có nghĩa vụ trả các khoản nợ được nêu trên cho phía Ngân hàng.

[3] Về án phí:

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên bà Đ và ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 92, các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1.

    Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C trả cho Ngân hàng C1 số tiền vốn vay 60.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 05/12/2024 là 8.190.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 68.190.000 đồng (Sáu mươi tám triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).

    Tiếp tục tính lãi từ ngày 06/12/2024 theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký cho đến khi bà Đ và ông C trả hết nợ vay cho Ngân hàng.

  2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2024/QĐ-BPKCTT ngày 30/7/2024, của Tòa án nhân dân huyện C là phong tỏa số tiền số tiền 66.054.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) của bà Đ và ông C tại cơ quan Thi hành án để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn C phải chịu 3.409.500 đồng (Ba triệu bốn trăm lẻ chín nghìn năm trăm đồng).
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trãi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay

  • Số bản án: 92/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger