trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/DS-ST

Ngày 02-7-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đào Thị Lan;
  2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh - Là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 652/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Dương Phước T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Bị đơn:

- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt;

- Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Phước T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 07/12/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:

Vào khoảng tháng 4/2022, chồng chị là Dương Phước T làm thầu xây nhà cho chị Trần Thị T1. Theo thỏa thuận, anh T nhận xây nhà cho chị T1 theo hình thức bao vật tư và bao công. Sau khi kết thúc hợp đồng, chị T1 còn nợ lại anh T số tiền là 270.000.000 đồng. Do không có tiền trả nên chị T1 thỏa thuận với anh T về việc bà T2 (mẹ chị T1) có cho chị T1 06 mét ngang đất, chị T1 sẽ bán lại phần đất này cho vợ chồng chị với giá 330.000.000 đồng để cấn trừ nợ thì chị và anh T đồng ý. Ngày 10/11/2022, anh T đến nhà và đưa thêm cho chị T1 số tiền là 60.000.000 đồng bằng tiền mặt, lúc giao tiền có mặt ông Phan Văn M1 (làm ở ấp T), bà T2, chị T1 và anh T, còn chị thì không có mặt. Nội dung hợp đồng đặt cọc ngày 10/11/2022 là do anh M1 viết, anh T, chị T1 và bà T2 ký tên, do chị không có mặt nên không ký. Việc anh T giao số tiền 60.000.000 đồng cho chị T1 không lập giấy biên nhận nhưng có anh M1 làm chứng. Mặc dù số tiền 330.000.000 đồng là do chị T1 nợ vợ chồng chị. Tuy nhiên, bà T2 cũng đồng ý bán đất để trả nợ thay cho chị T1, vì vậy bà T2 mới đồng ý ký hợp đồng đặt cọc nhằm chuyển số tiền chị T1 nợ sang số tiền đặt cọc mua bán đất. Điều này, đồng nghĩa với việc bà T2 đồng ý chịu trách nhiệm với chị T1 về số tiền 330.000.000 đồng mà chị T1 nợ vợ chồng chị. Do vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 10/11/2022 giữa chị và bà T2, đồng thời yêu cầu chị T1 và bà T2 cùng có trách nhiệm liên đới trả lại cho vợ chồng chị số tiền là 330.000.000 đồng. Chị không yêu cầu bà T2 và chị T1 trả tiền lãi, cũng không yêu cầu phạt cọc.

* Bị đơn, bà Đặng Thị T2 trình bày trong đơn tường trình ngày 28/12/2023: Nguyên vào năm 2022, con gái bà là Trần Thị T1 có hợp đồng xây nhà với ông T, chồng bà M. Sau khi xây nhà xong thì T1 nợ ông T số tiền nhiêu đó. Nhiều lần bà nghe ông T đòi hành hung, đánh chị T1, vì thương con nên bà đồng ý ký chuyển nhượng đất cho ông T để trừ nợ, nhưng sau đó bốn đứa con bà không đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng nên bà M đi kiện yêu cầu bà phải hoàn lại tiền. Bà không nhận tiền của bà M, ông T nên không đồng ý.

Tại biên bản hòa giải ngày 28/12/2023, bà T2 khai: Bà có cho chị T1 một phần đất 06 mét ngang để chị T1 xây nhà ở nhưng chưa tách thửa sang tên. Sau khi chị T1 xây nhà xong thì thiếu tiền xây nhà của ông T khoảng một trăm mấy hai trăm triệu. Chị T1 có lục giấy tờ tùy thân của bà và lập hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bà ký tên, bà nói đợi đến sáng đọc lại rồi mới ký nhưng ông T yêu cầu ký và nói là không liên quan đến bà nên bà mới ký. Nay bà không nhận tiền của vợ chồng ông T nên không đồng ý với yêu cầu của bà M, ông T.

* Chị Trần Thị T1 trình bày: Chồng bà M là ông Dương Phước T có làm thầu xây nhà cho chị. Theo thỏa thuận ban đầu thì ông T bao trọn gói xây nhà với giá là 600.000.000 đồng, tuy nhiên quá trình làm phát sinh thêm thành 750.000.000 đồng. Chị trả tiền cho ông T nhưng còn thiếu lại số tiền là 330.000.000 đồng. Số tiền này hoàn toàn là tiền xây nhà chứ thực tế, chị không vay tiền gì của ông T và ông T cũng không giao thêm cho chị khoản tiền nào khác. Do việc làm ăn của chị gặp khó khăn nên không có tiền trả cho ông T, do vậy ông T muốn lấy đất để trừ nợ, nhưng đất là của mẹ chị bà Đặng Thị T2 đứng tên, nên lúc đầu chị không đồng ý. Tuy nhiên, ông T thường xuyên ra quán cà phê của chị quậy phá làm ảnh hưởng đến việc làm ăn nên chị mới nhờ ông Phan Văn M1 ở cùng ấp viết “Hợp đồng đặt cọc” như bà M giao nộp cho Tòa. Nội dung hợp đồng là ông M1 viết theo yêu cầu của ông T. Do giữa chị và ông T phát sinh tình cảm với nhau, ông T sợ khó ăn nói sau này nên yêu cầu ông M1 phải viết tên người mua là bà Nguyễn Thị Tuyết M (vợ ông T) mà không phải là ông T, mặc dù lúc viết hợp đồng hoàn toàn không có mặt bà M. Mục đích chị và bà T2 ký tên, lăn tay trong hợp đồng này là để ông T chịu để yên cho chị làm ăn, khi có tiền chị sẽ trả lại cho ông T, chứ thực tế hai bên không phải mua bán đất thật. Mẹ chị bà Đặng Thị T2 không nợ tiền của bà M, ông T. Số tiền trên thực tế là chị nợ vợ chồng ông T nên nay chị đồng ý trả lại cho ông T, bà M số tiền 330.000.000 đồng và đồng ý trả tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 10/11/2022 cho đến ngày Tòa án giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Dương Phước T trình bày: Vào năm 2022, anh nhận thầu xây nhà cho chị Trần Thị T1. Sau khi xây nhà xong thì chị T1 còn nợ lại anh số tiền là 270.000.000 đồng. Sau khi xây nhà xong khoảng 01 tháng thì chị T1 vay thêm của anh số tiền là 60.000.000 đồng, nhưng không viết giấy biên nhận. Sau nhiều lần đòi nhưng không được, sau đó chị T1 nói với anh về việc bà T2 (mẹ chị T1) có cho chị T1 06 mét ngang đất chị T1 sẽ bán lại phần đất này cho vợ chồng anh với giá 330.000.000 đồng để cấn trừ nợ thì anh và chị M đồng ý. Tối ngày 10/11/2022, anh đến nhà chị T1 được một lúc thì ông M1 và bà T2 đến. Sau đó thì ông M1 viết hợp đồng đặt cọc, ông, ông M1, chị T1 và bà T2 ký tên, lăn tay, còn chị M không ký tên vì không có mặt. Về chứng từ chị T1 nợ tiền nhà của anh, anh đã giao cho chị T1 sau khi hai bên ký hợp đồng đặt cọc. Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 10/11/2022, yêu cầu bà T2 và chị T1 liên đới trả cho vợ chồng anh số tiền là 330.000.000 đồng.

* Theo người làm chứng, ông Phan Văn M1 trình bày: Ông là Phó trưởng ấp T và không có quan hệ họ hàng gì với bà M, ông T, cũng như bà T2 và chị T1. Vào chiều tối ngày 10/11/2022, ông đang ở nhà thì chị T1 gọi điện nhờ ông đến quán cà phê nhà chị T1 để viết dùm hợp đồng đặt cọc mua bán đất thì ông đồng ý. Khi ông đến đã thấy chị T1 và anh T ở tại quán, còn bà T2 một lát sau cũng đến cầm theo căn cước công dân và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phô tô. Chị T1 nói rằng chị T1 và bà T2 bán cho anh T, chị M 06 mét ngang đất với giá 330.000.000 đồng nên nhờ ông viết hợp đồng giúp. Ông có hỏi các bên có đồng ý hết chưa thì mọi người đều nói thống nhất hết nên ông mới viết “Hợp đồng đặt cọc” ngày 10/11/2022 như chị M đã nộp cho Tòa. Sau khi viết xong nội dung hợp đồng, ông có đọc lại cho các bên nghe, sau đó mọi người cùng ký tên và lăn tay như trong hợp đồng đã thể hiện. Ông cũng ký tên và lăn tay với tư cách người làm chứng. Về số tiền 330.000.000 đồng ông T, bà M giao cho bà T2, chị T1 lúc nào thì ông không nhìn thấy. Chỉ biết các bên thỏa thuận như vậy và yêu cầu ông viết hợp đồng nên ông viết.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc hủy hợp đồng đặt cọc, buộc bị đơn liên đới trả số tiền 330.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc. Bị đơn chị T1 đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với bà T2 cho rằng không nhận tiền của nguyên đơn nên không đồng ý trả.

* Đại diện VKSND Huyện Dương Minh Châu phát biểu: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm giải quyết vụ án thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M đối với chị T1, bà T2, về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/11/2022 giữa chị T1, bà T2 và anh T, chị M. Buộc chị T1, bà T2 có trách nhiệm liên đới trả cho chị M, anh T số tiền 330.000.000 đồng. Ghi nhận chị M không yêu cầu phạt cọc, không yêu cầu tính lãi. Các đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định, vào năm 2022, anh T (chồng chị M) có làm thầu xây nhà cho chị T1. Sau khi kết thúc hợp đồng, chị T1 còn nợ anh T số tiền 330.000.000 đồng. Ngày 10/11/2022, bà T2 và chị T1 ký hợp đồng đặt cọc với nội dung: bà T2 cam kết chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Tuyết M 06 mét ngang đất, tại thửa 2405, tờ bản đồ 06, tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh với giá 55.000.000/mét. Hợp đồng đặt cọc cũng ghi rõ, chị M đã thanh toán đủ số tiền 330.000.000 đồng. Hợp đồng đặt cọc nêu trên có bà T2, chị T1 ký tên, lăn tay với tư cách bên bán, ông T ký tên và lăn tay dưới mục bên mua. Ông M1 ký tên với tư cách người làm chứng.

[2] Như vậy, mặc dù số tiền 330.000.000 đồng là tiền nợ của chị T1 đối với vợ chồng ông T, nhưng các bên đã thỏa thuận chuyển số tiền nợ này sang tiền đặt cọc mua bán đất theo hợp đồng đặt cọc ngày 10/11/2022. Nay bà T2 và chị T1 từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên chị M, anh T yêu cầu bà T2 và chị T1 phải liên đới hoàn trả lại số tiền 330.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 nên chấp nhận. Việc bà T2 cho rằng bà không nhận tiền của chị M, ông T nên không đồng ý trả là không có căn cứ.

[3] Về phạt cọc: Nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị M được Tòa án chấp nhận nên bà T2 và chị T1 phải liên đới chịu 16.500.000 đồng án phí có giá ngạch và 300.000 đồng án phí không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 4 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bà T2 có đơn đề nghị miễn tiền án phí vì là người cao tuổi theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 nên Hội đồng xét xử miễn cho bà T2 nộp phần tiền án phí là 8.400.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 328, Điều 377 Bộ luật Dân sự 20 15; Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 10 tháng 11 năm 2022 giữa bà Đặng Thị T2, chị Trần Thị T1 và chị Nguyễn Thị Tuyết M, anh Dương Phước T. Buộc bà Đặng Thị T2 và chị Trần Thị T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Dương Phước T số tiền 330.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm ba mươi triệu đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Chị Trần Thị T1 phải chịu 8.400.000 đồng (bằng chữ: Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Bà Đặng Thị T2 được miễn nộp số tiền án phí là 8.400.000 đồng (bằng chữ: Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Chị Nguyễn Thị Tuyết M được nhận lại 8.550.000 đồng (bằng chữ: Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 0007101 và 0007102 ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Huyện Dương Minh Châu;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 92/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thỏa thuận đặt cọc bán đất để cấn trừ nợ cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger