Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/DS-PT

Ngày: 16-4-2024

V/v “Tranh chấp về đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Ông Đỗ Minh Nhựt

- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Trần Linda - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Vũ Thị Hồng Uyên – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng về đặt cọc”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 111/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • - Bà Nguyễn Thị Quế H, sinh ngày 25/11/1993;
  • Địa chỉ: Ấp L, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Ông Lê Quang H1, sinh ngày 15/12/1990;
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  • Cùng nơi cư trú: 763, đường B, tổ C, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Nguyễn Xuân H2, sinh ngày 15/8/1989; địa chỉ: Ấp L, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 12/8/2023.

Bị đơn:

  • - Ông Đinh Văn C, sinh ngày 01/01/1972;
  • - Bà Nguyễn Thị Hồng U, sinh ngày 27/7/1977;
  • Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Nguyễn Thị Hồng U, sinh ngày 27/7/1977. Theo giấy ủy quyền ngày 20/9/2023.

(Bà H, ông H1, ông H2 và bà U có mặt; Ông C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung Bản án sơ thẩm:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quế H, ông Lê Quang H1 và do ông Nguyễn Xuân H2 là người đại diện theo ủy quyền của ông H1 trình bày:

Ngày 27/6/2021, vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H, ông Lê Quang H1 có thỏa thuận đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 1.080m² thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai của vợ chồng ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U. Giá trị nhận chuyển nhượng là 830.000.000 đồng, chúng tôi đặt cọc trước cho họ số tiền 430.000.000 đồng. Số tiền còn lại 400.000.000 đồng ra công chứng thanh toán hết hoặc ghi giấy nợ tại phòng công chứng. Thời gian sang nhượng tên từ ngày 27/6/2021 đến ngày 01/01/2022. Do trong quá trình thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng ông C, bà U đã vi phạm cam kết nên không thực hiện được việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 30/12/2022, chúng tôi thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 27/6/2021. Theo nội dung giấy thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc có ghi:

- “- Vào ngày 27/6/2021, bên A chỉ nhận đặt cọc tiền mua bán đất của bên B số tiền 400.000.000 đồng. Bên A trả trước cho bên B số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 200.000.000 đồng khi nào bán được diện tích đất 1.080m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 27 nêu trên thì bên A sẽ trả cho bên B. Thời hạn để bên A bán đất trong 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023). Nếu hết thời gian 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023) bên A không bán được diện tích đất nêu trên thì bên A vẫn phải trả cho bên B số tiền 200.000.000 đồng. Nếu trước thời gian 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023) bên A bán được diện tích đất nêu trên sớm ngày nào thì bên A trả số tiền 200.000.000 đồng cho bên B sớm ngày đó.

- Hủy toàn bộ nội dung giấy sang nhượng hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 giữa bên A và bên B”.

Ngoài nội dung theo Biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 được lập vào ngày 30/12/2022, thì giữa hai bên không có thỏa thuận nào khác bằng văn bản về việc hủy giấy sang nhượng hợp đồng đặt cọc ngày 26/7/2021.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2023 và Biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 được lập vào ngày 30/12/2022, có nội dung chúng tôi tổ giác bên A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại cơ quan công an là Phòng C1 Công an tỉnh Đ. Phòng C1 Công an tỉnh Đ không khởi tố vụ án, mà chỉ có hòa giải hai bên theo nội dung giấy thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 30/12/2022.

Tuy nhiên, ông C và bà U đã vi phạm cam kết nên chúng tôi không đồng ý bớt cho họ số tiền 30.000.000 đồng, vì vậy họ phải trả lại cho bà H, ông H1 số tiền còn lại theo giấy nhận cọc ngày 27/6/2021, là 230.000.000 đồng.

Nay chúng tôi yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 số tiền cọc đã nhận còn lại chưa trả là 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/10/2023 trên tổng số tiền 430.000.000đ, là 36.225.000đ (Ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Ngày 16/10/2023, vợ chồng bà H, ông H1 đã nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) từ vợ chồng ông C, bà U nên có điều chỉnh lại số tiền sau khi tính toán lại, cụ thể: Buộc ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U phải trả lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 số tiền cọc đã nhận còn lại là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/10/2023, là 36.225.000₫ (Ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng), không yêu cầu tiền lãi phát sinh gì thêm khi Tòa án xét xử vụ án.

Ngày 19/12/2023, nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt phiên tòa xét xử vụ án dân sự nói trên.

* Bị đơn ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U (bà U cũng là người đại diện theo ủy quyền của ông C) trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:

Ngày 27/6/2021, vợ chồng tôi có nhận cọc của bà Nguyễn Thị Quế H số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) để chuyển nhượng diện tích đất 1.080,0m² thuộc một phần thửa đất số 201, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Trong giấy nhận cọc có ghi cọc là 430.000.000 đồng, nhưng thực tế chỉ có nhận cọc là 400.000.000 đồng. Do trong quá trình thực hiện việc chuyển nhượng hai bên không thống nhất với nhau nên đã hủy cọc.

Ngày 30/12/2022, giữa bà Nguyễn Thị Hồng U và bà Nguyễn Thị Quế H đã thống nhất lập bản hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 27/6/2021. Tại biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc cũng đã ghi rõ số tiền bên A (bên bán) chỉ nhận có 400.000.000 đồng, không có thỏa thuận về việc trả lãi suất. Bên A đã trả cho bên

B (bên mua) số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 30/12/2022. Bên A phải trả cho bên B số tiền còn lại 200.000.000 đồng là phù hợp với số tiền khi nhận cọc chỉ có 400.000.000 đồng.

Ngày 16/10/2023, vợ chồng bà H, ông H1 đã nhận chuyển khoản số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) từ vợ chồng ông C, bà U.

Như vậy, ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U đã chuyển trả đủ hết số tiền nhận cọc 400.000.000 đồng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1. Vì vậy, ông CU không đồng ý trả thêm cho bà H, ông H1 số tiền cọc 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 36.225.000₫ (Ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Ngày 06/11/2023, bị đơn có đơn đề nghị vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải; đối chất và phiên tòa xét xử vụ án dân sự nói trên. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 210, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 243, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 117, Điều 119, Điều 328, Điều 385 và Điều 401 của Bộ luật dân sự. Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 về việc “Tranh chấp về đặt cọc” đối với bị đơn ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 20/01/2024 bà H, ông H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U phải trả lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 số tiền cọc đã nhận còn lại là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/10/2023, là 36.225.000đ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ.

Về đường lối giải quyết vụ án: cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà H, ông H1 làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự và người đại diện theo ủy quyền có mặt nên tòa án đưa vụ án ra xét xử là đưng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án và nội dung kháng cáo:

Ngày 27/6/2021, vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H, ông Lê Quang H1 (bên B) có thỏa thuận đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai của vợ chồng ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U (bên A), có lập hợp đồng đặt cọc lập ngày 27/6/2021, số tiền đặt cọc là 430.000.000 đồng.

Ngày 30/12/2022, hai bên thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 27/6/2021. Nội dung giấy thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc có ghi:

-“Do trong quá trình thương lượng đi xem và mua bán đất 02 bên có sự nhầm lẫn về diện tích đất nên xảy ra trường hợp sau: Bên A bán cho bên B diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 201 tờ bản đồ số 27 nhưng bên B lại nghĩ rằng mua của bên A diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 202 tờ bản đồ số 27. Và ngược lại tức là Bên B mua của bên A diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 202 tờ bản đồ số 27 nhưng bên A lại nghĩ rằng bán cho bên B diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 201 tờ bản đồ số 27”

-“ + Vào ngày 27/6/2021, bên A chỉ nhận đặt cọc tiền mua bán đất của bên B số tiền 400.000.000 đồng. Bên A trả trước cho bên B số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 200.000.000 đồng khi nào bán được diện tích đất 1080m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 27 nêu trên thì bên A sẽ trả cho bên B. Thời hạn để bên A bán đất trong 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023). Nếu hết thời gian 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023) bên A không bán được diện tích đất nêu trên thì bên A vẫn phải trả cho bên B số tiền 200.000.000 đồng. Nếu trước thời gian 4,5 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến ngày 15/5/2023) bên A bán được diện tích đất nêu trên sớm ngày nào thì bên A trả số tiền 200.000.000 đồng cho bên B sớm ngày đó.

- Hủy toàn bộ nội dung giấy sang nhượng hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 giữa bên A và bên B”.

Ngoài nội dung theo Biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 được lập vào ngày 30/12/2022, thì giữa hai bên không có thỏa thuận nào khác liên quan đến hợp đồng đặt cọc ngày 26/7/2021.

Nội dung của văn bản được hai bên lập ngày 30/12/2022 có nội dung thỏa thuận “Hủy toàn bộ nội dung giấy sang nhượng hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 giữa bên A và bên B” tức là hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 không còn hiệu lực. Đồng thời văn bản được hai bên lập ngày 30/12/2022 cũng thể hiện việc hai bên chỉ nhận đặt cọc tiền mua bán đất của bên B số tiền 400.000.000 đồng và thỏa thuận chỉ trả lại 400.000.000đ, không thỏa thuận gì khác kể cả việc tính lãi suất; nội dung văn bản cũng có giải thích có sự nhầm lẫn giữa thửa 201 và thửa 202. Văn bản lập ngày 30/12/2022 được các bên thừa nhận, không có ý kiến hay yêu cầu gì nên có hiệu lực.

Nguyên đơn trình bày thực tế số tiền đặt cọc là 430.000.000đ như hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 đã ghi nhưng do nguyên đơn bớt cho bị đơn 30.000.000đ nên mới ghi số tiền 400.000.000đ như trong văn bản ngày lập ngày 30/12/2022, nay do bị đơn không trả tiền để nguyên đơn khởi kiện nên nguyên đơn không bớt 30.000.000đ nữa. Nguyên đơn không có căn cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình và bị đơn không thừa nhận.

Bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng cộng 400.000.000đ đúng theo nội dung thỏa thuận tại Biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc ngày 27/6/2021 được lập vào ngày 30/12/2022. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền còn lại theo giấy nhận cọc ngày 27/6/2021 là 430.000.000đ - 400.000.000đ = 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 0,75%/tháng x 430.000.000đ (tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/10/2023) là 36.225.000đ (Ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng), không yêu cầu tiền lãi phát sinh gì thêm khi Tòa án xét xử vụ án là không phù hợp với nội dung thỏa thuận tại Biên bản thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 30/12/2022. Bị đơn vợ chồng ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu khởi kiện của ông H1, bà H là không có căn cứ và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U phải trả lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 số tiền cọc đã nhận còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi suất 0,75%/tháng x 430.000.000đ (tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/10/2023) là 36.225.000đ nhưng không nộp thêm tài liệu chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, vì vậy cấp phúc thẩm y án sơ thẩm.

[3] Do không chấp nhận kháng cáo của bà H, ông H1 nên bà H ông H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án sơ thẩm phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 210, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 243, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 117, Điều 119, Điều 328, Điều 385 và Điều 401 của Bộ luật dân sự; Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 về việc “Tranh chấp về đặt cọc” đối với bị đơn ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng U.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 phải nộp án phí số tiền là 3.311.000₫ (Ba triệu ba trăm mười một ngàn đồng), được trừ vào số tiền 6.955.625đ (Sáu triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm hai mươi lăm đồng) tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005426 và số 0005427 cùng ngày 25/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, số tiền còn lại 3.644.625đ (Ba triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm hai mươi lăm đồng) hoàn trả cho bà H, ông H1 theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Thị Quế H và ông Lê Quang H1 mỗi người phải chịu 300.000₫ án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 9193 ngày 29/01/2024, 9377 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND H. Vĩnh Cửu;
  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - THADS H. Vĩnh Cửu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Thanh Bình

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa

Trần Thị Mỹ Hạnh

Đỗ Minh Nhựt

Thái Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về đặt cọc

  • Số bản án: 92/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger