Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP

CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 919/2024/HSPT

Ngày 14 tháng 11 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Võ Hồng Sơn
Ông Hồ Sỹ Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Quốc Huy, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1147/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Thị Hà L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2024/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có kháng cáo: Ngô Thị Hà L, sinh ngày 23/7/1999 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số A P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số E L, Cầu Đ, Ngô Q, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Đăng N, sinh năm 1969 và bà Dương Thị Thu T, sinh năm 1970; có chồng Nguyễn Đức H, sinh năm 1993 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh ngày 17/4/2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/5/2024;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 ngày 24/12/2022, tại khu vực ngã ba Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Phòng C - Công an thành phố H bắt quả tang Trần Thị Vân A, sinh năm 1992, trú tại: Số E H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy khi đang điều khiển xe mô tô BKS 15B2-969.88, thu giữ trên tay trái của Vân A đang cầm 01 hộp giấy đựng thuốc lá điện tử (còn gọi là P) và trong cốp xe mô tô 04 hộp giấy đựng P cùng nhãn hiệu Hilax, trong mỗi cây P đều chứa chất lỏng màu vàng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị Vân A thu giữ 17 hộp giấy trong chứa tổng cộng 17 cây Pod gồm 15 cây nhãn hiệu Hilax và 02 cây nhãn hiệu Limitted bên trong đều chứa chất lỏng màu vàng. Vân A khai toàn bộ số Pod trên có chứa chất lỏng là ma túy, Vân A mua của Nguyễn Duy T1, sinh năm 1990, trú tại: Số B đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng về bán kiếm lời.

Đến 21 giờ ngày 24/12/2022, Nguyễn Duy T1 ra đầu thú tại Phòng C - Công an thành phố H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét nơi ở của T1, Cơ quan điều tra thu giữ 06 cây Pod nhãn hiệu Hilax trong chứa chất lỏng màu vàng.

Tại Kết luận giám định về ma túy số 566/KL-KTHS ngày 22/10/2022 của Phòng C Công an thành phố H kết luận: Chất lỏng trong 22 chiếc Pod thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Vân A có tổng thể tích là 51 ml, tìm thấy chất ma túy loại ADB-BUTINACA; chất lỏng trong 06 chiếc Pod thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Duy T1 có tổng thể tích 12 ml, tìm thấy chất ma túy loại ADB-BUTINACA.

Quá trình điều tra đã xác định được: Khoảng tháng 12/2021, Trần Thị Vân A bắt đầu kinh doanh các loại thuốc lá điện tử trên địa bàn thành phố Hải Phòng để kiếm lời. Đến khoảng giữa tháng 9/2022 do muốn kiếm thêm thu nhập, Vân A bắt đầu mua thuốc lá điện tử (còn gọi là P) nhãn hiệu Hilax, L1 là loại có chứa ma túy của Nguyễn Duy T1 và trên mạng xã hội để bán cho khách. Vân A đã mua được từ Thao tổng cộng 20 cây Pod nhãn hiệu Hilax và 03 cây P (gồm 01 cây nhãn hiệu Hilax và 02 cây nhãn hiệu Limitted) từ một tài khoản mạng xã hội Facebook (hiện chưa xác định được chủ tài khoản) với giá 500.000 đồng/01 cây sau đó mang về nơi ở cất giữ để bán kiếm lời. Vân A sau đó đã bán được cho một khách nam giới 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax, số P còn lại Vân A chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy T1 và Trần Thị Vân A khai nhận phù hợp như nội dung nêu trên. Về nguồn gốc số Pod nhãn hiệu Hilax chứa ma túy Nguyễn Duy T1 đã bán cho Vân A và cất giữ tại nơi ở, T1 khai nhận mua của Ngô Thị Hà L với giá từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng/01 cây sau đó mang về nơi ở cất giữ để bán lại cho khách kiếm lời. Từ khoảng tháng 9/2022 đến ngày 24/12/2022, T1 đã mua được từ L 20 cây Pod nhãn hiệu Hilax với giá 7.000.000 đồng và mua của một tài khoản mạng xã hội Facebook (hiện chưa xác định được chủ tài khoản) 06 cây Pod nhãn hiệu Hilax với giá 3.000.000 đồng, sau đó T1 đã bán được cho Vân A 20 cây Pod, số P nhãn hiệu Hilax còn lại T1 chưa kịp bán thì biết tin Vân A bị bắt giữ nên đã ra cơ quan Công an đầu thú. Ngoài việc mua ma túy của L bán lại cho khách kiếm lời thì L còn nhiều lần thuê T1 đi giao Pod gồm cả loại thường và loại chứa ma túy cho khách của L, khách sẽ trả tiền trực tiếp cho T1 hoặc chuyển khoản cho L, sau đó L sẽ trả công cho T1 từ khoảng 30.000 đồng đến 250.000 đồng mỗi lần giao tuỳ theo thời điểm, quãng đường giao hàng.

Tại Bản án số 181/2023/HS-ST ngày 05/9/2023, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt Nguyễn Duy T1 09 năm tù và Trần Thị Vân A 07 năm tù cùng về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với Ngô Thị Hà L, căn cứ tài liệu điều tra, ngày 07/6/2023 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với L về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do L đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với L. Quá trình điều tra, L bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và Tạm đình chỉ điều tra bị can.

Ngày 16/4/2024, Ngô Thị Hà L đến Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng đầu thú, xét hỏi Ngô Thị Hà L khai nhận: Khoảng tháng 5/2022, L bắt đầu kinh doanh các loại thuốc lá điện tử (P) để kiếm lời. L tìm mua thuốc lá điện tử trên mạng xã hội và sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa để giao hàng cho khách, tiền mua bán thuốc lá điện tử sẽ được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho người chuyển hàng (shipper) hoặc bằng cách chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Đến khoảng đầu tháng 9/2022, L bắt đầu mua P nhãn hiệu Hilax là loại có chứa ma tuý về bán cho khách kiếm thêm lời. L tìm mua Pod loại Hilax từ các tài khoản mạng xã hội Facebook với giá 150.000 đồng đến 200.000 đồng/01 cây, sau khi đồng ý giao dịch thì người bán sẽ thuê shipper chuyển P chứa ma tuý đến giao cho L và L trả tiền cho người shipper đó. Từ đầu tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, L đã nhiều lần liên hệ và mua được khoảng gần 40 cây Pod từ các tài khoản mạng xã hội Facebook sau đó mang về nơi ở cất giữ để bán cho khách với giá từ 650.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 cây (tuỳ theo thời điểm, quãng đường giao hàng và độ hiểu biết giá của khách). Do T1 là chỗ quen biết với L nên L đã bán cho Nguyễn Duy T1 tổng cộng 20 cây Pod nhãn hiệu Hilax với giá 7.000.000 đồng (bao gồm 10 cây Pod với giá 3.000.000 đồng T1 đã trả tiền và 10 cây Pod với giá 4.000.000 đồng T1 còn nợ chưa trả tiền L). Ngoài ra, L đăng thông tin rao bán lên mạng xã hội Facebook, khi có khách liên hệ hỏi mua, L lấy thông tin người mua (số điện thoại, địa điểm giao dịch) rồi thuê Nguyễn Duy T1 đi giao cho khách. Thao giao P chứa ma tuý cho khách thì thu tiền mặt mang về đưa lại cho L hoặc chuyển khoản cho L và nhận tiền công giao, bán ma tuý. L đã nhiều lần thuê T1 đi giao Pod chứa ma tuý cho khách, trong đó xác định được các lần như sau:

  • - Ngày 01/12/2022, một khách liên hệ với L hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax, hẹn giao dịch ở khu vực gần T S, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, L đồng ý và báo giá 650.000 đồng. L đã thuê T1 mang đi giao cho khách. T1 sau khi thu tiền của khách đã chuyển khoản cho L số tiền 620.000 đồng và giữ lại tiền công 30.000 đồng.
  • - Khoảng ngày 03/12/2022 - 04/12/2022, một khách nam giới tên T2 (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ với L hỏi mua mỗi ngày 01 cây Pod Hilax và hẹn giao dịch đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, L đồng ý và báo giá 650.000 đồng/cây. L thuê T1 mang Pod đến khu vực trên giao cho T2 nhưng do tài khoản ngân hàng của T2 bị lỗi nên T2 hẹn trực tiếp qua nhà L trả tiền mặt cho L. Ngoài ra, có một khách hỏi mua 01 cây Hilax hẹn giao dịch ở khu vực Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, L báo giá 850.000 đồng; một khách hỏi mua 01 cây Hilax hẹn giao dịch ở khu vực đường D, quận L, thành phố Hải Phòng, L báo giá 700.000 đồng. L đã thuê T1 mang đi giao cho khách, T1 sau khi thu tiền của khách đã chuyển khoản cho L số tiền 1.290.000 đồng và giữ lại 260.000 đồng tiền công.
  • - Ngày 08/12/2022, một khách liên lạc với L hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax hẹn mang đến bến xe V, quận L, thành phố Hải Phòng và xin nợ lại tiền hẹn qua nhà trả tiền trực tiếp cho L sau, L đồng ý và báo giá 650.000 đồng. L đã thuê T1 giao cho khách. Cùng ngày, một khách liên hệ với L hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax hẹn giao đến khu vực vòng xuyến Deep C Đ, quận H, thành phố Hải Phòng với giá 650.000 đồng và một khách liên hệ hỏi L mua 01 kiện hàng thuốc lá điện tử loại thường với giá 16.420.000 đồng. L đã thuê T1 đi giao cho khách. T1 sau khi thu tiền của khách đã chuyển khoản cho L số tiền 16.720.000 đồng và giữ lại 350.000 đồng tiền công.
  • - Ngày 13/12/2022, một khách liên hệ với L mua 01 cây Hilax hẹn giao dịch tại khu vực cầu Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, L đồng ý và báo giá 1.000.000 đồng. L đã thuê T1 đi giao cho khách. T1 sau khi thu tiền của khách đã chuyển khoản cho L số tiền 770.000 đồng và giữ lại 230.000 đồng tiền công.
  • - Ngày 20/12/2022, một khách liên hệ với L hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax, hẹn giao dịch ở khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng và xin nợ lại tiền hẹn qua nhà trả tiền trực tiếp cho L sau, L đồng ý và báo giá 650.000 đồng; một khách liên hệ hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax hẹn giao dịch ở khu vực xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, L đồng ý báo giá 700.000 đồng/01 cây. L đã thuê T1 đi giao cho 02 khách trên. Thao sau khi thu tiền của khách thì giữ lại 130.000 đồng tiền công và chưa kịp trả tiền lại cho L.
  • - Ngày 23/12/2022, một khách liên hệ với L cho L hỏi mua 01 cây Pod nhãn hiệu Hilax hẹn giao dịch ở khu vực đường D, quận L, thành phố Hải Phòng, L đồng ý và báo giá 650.000 đồng. L đã thuê T1 đi giao Pod cho khách. T1 sau khi thu tiền của khách đã giữ lại 50.000 đồng tiền công và chưa kịp trả tiền lại cho L.

Tại bản cáo trạng số 173/CT-VKS-P1 ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ngô Thị Hà L về tội Mua bán trái phép ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2024/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Ngô Thị Hà L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Ngô Thị Hà L 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Phạt tiền bị cáo L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 4.080.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo: Ngày 06/9/2024, bị cáo Ngô Thị Hà L kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt;

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

4.1. Bị cáo Ngô Thị Hà L thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình Biên lai thu tiền số 0000854 ngày 05/9/2024 và số 0001136 ngày 13/11/2024 thể hiện bị cáo đã tự nguyện thi hành hình phạt tiền 20.000.000 đồng, giao nộp số tiền thu lời bất chính 4.080.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; từ đó, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

4.2. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Tòa án xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình Biên lai thu tiền số 0000854 ngày 05/9/2024 và số 0001136 ngày 13/11/2024 thể hiện bị cáo đã tự nguyện thi hành hình phạt tiền 20.000.000 đồng, giao nộp số tiền thu lời bất chính 4.080.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xét kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khoảng 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/9/2024, bị cáo Ngô Thị Hà L có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị Hà L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Từ khoảng đầu tháng 9/2022 đến ngày 23/12/2022, Ngô Thị Hà L đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép thuốc lá điện tử có chưa chất ma tuý loại ADB-BUTINACA (tinh dầu cần sa, không giám định được hàm lượng quy đổi vì chưa có mẫu chuẩn định lượng ADB-BUTINACA). Số lượng xác định được, T1 đã mua được từ L 20 cây Pod nhãn hiệu Hilax. L còn nhiều lần thuê T1 đi giao Pod gồm cả loại thường và loại chứa ma túy cho khách của L, số lượng L bán lại cho khách (xác định được 09 cây H). Tổng cộng số cây Pod nhãn hiệu Hilax bị cáo khai nhận khoảng gần 40 cây, nhưng bị cáo chỉ chứng minh được bị cáo bán tổng cộng là 29 cây và thu lời bất chính số tiền khoảng 4.080.000 đồng.

Bị cáo Ngô Thị Hà L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy với con người, việc sử dụng ma túy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và phát sinh các tội phạm khác, việc buôn bán loại thuốc lá điện tự có chứa ma tuý là trái pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Thị Hà L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Hà L thì thấy:

[3.1] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và ra đầu thú, bị cáo có bà Phạm Thị Tuyết M được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, ông Dương Đình S được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, huy chương kháng chiến hạng nhất và bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 9 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp, tương xứng với vai trò, tính chất phạm tội của bị cáo.

[3.2] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật; tỏ ra rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hứa quyết tâm tự cải tạo để sớm được về với gia đình, hòa nhập với xã hội và xuất trình Biên lai thu tiền số 0000854 ngày 05/9/2024 và số 0001136 ngày 13/11/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng thể hiện bị cáo đã nộp 4.080.000 đồng tiền thu lời bất chính, 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và tự nguyện thi hành hình phạt tiền 20.000.000 đồng, điều này thể hiện bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm, có ý thức khắc phục và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, có 02 con còn nhỏ; để động viên bị cáo tích cực cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, sớm được trở về với gia đình; nên Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như thể hiện được tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản sơ thẩm về phần này.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Hà L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2024/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, cụ thể:

Căn cứ điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Ngô Thị Hà L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Ngô Thị Hà L 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Phạt tiền bị cáo L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước, và buộc bị cáo L nộp lại số tiền 4.080.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã tự nguyện thi hành khoản tiền phạt 20.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001136 ngày 13/11/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, khoản tiền thu lời bất chính 4.080.000 đồng và án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng bị cáo bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000854 ngày 05/9/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Xác nhận bị cáo đã thi hành xong khoản tiền phạt, khoản tiền thu lời bất chính và án phí hình sự sơ thẩm.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Hà L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm..

3. Các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THA dân sự thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu HCTP, Hồ sơ vụ án, .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 919/2024/HSPT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 919/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger