| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 919/2024/HS-PT | |
| Ngày 25-9-2024 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 194/HSPT ngày 29-02-2024 đối với bị cáo Nguyễn Khánh N, do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 610/2023/HS-ST ngày 25-12-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Khánh N, sinh năm 1985 tại Vĩnh Long; Thường trú: số G đường H, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: phòng P Chung cư C, E N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Kim A; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2020 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa bào chữa cho bị cáo:
- Luật sư Phạm Thị Thanh T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, làm việc tại Văn phòng L1 (có mặt).
- Luật sư Phan Văn H1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, làm việc tại Văn phòng L1 (có mặt).
- Bị hại:
- Công ty G,
- Công ty A1. LTD,
Địa chỉ: D Hibiscus C, O, New Zealand.
Địa chỉ: A P, #05-01 G, S.
Người đại diện theo ủy quyền cho 02 Công ty nêu trên: Ông Lương Việt D, sinh năm 1957, trú tại: A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị hại:
Luật sư Nguyễn Sa L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, làm việc tại Văn phòng L2 (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị Kim K, sinh năm 1991; Trú tại: F B, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: A3107 B, Tòa nhà M, số A B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1977; Trú tại: số A Đường I, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 6 P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Anh V, sinh năm: 1994; Trú tại: 9 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Phúc V1, sinh năm: 1994; Trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: 8 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1958; Trú tại: số G Đường H, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Philip Leigh M (P), là giám đốc của Công ty G và Công ty A1. Ltd. Thông qua một người ở Thái Lan giới thiệu, ông P đã truy cập trên Internet để tìm hiểu và biết Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B2 do Nguyễn Khánh N làm Giám đốc, trụ sở tại Tầng A, tòa nhà S, B L, phường B, Quận A, TP. Hồ Chí Minh(gọi tắt là Công ty B2) có bán găng tay y tế. Sau đó, ông P đã sử dụng ứng dụng “WhatsApp” để liên lạc, nhắn tin, trao đổi với Nguyễn Khánh N về việc yêu cầu N cung cấp găng tay y tế hiệu Vglove của Công ty CP V3 (gọi tắt là Công ty V3), nhưng do nguồn hàng này khan hiếm nên N tự đăng ký, sản xuất và xuất khẩu bán cho ông P găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo của Công ty B2.
Để tạo lòng tin cho ông P, Nguyễn Khánh N đã thực hiện các hành vi sau: N lấy hình ảnh nhà máy sản xuất găng tay trên mạng Internet để gửi cho ông P; N đặt in 1.000 vỏ thùng, 1.000 vỏ hộp giấy carton bên ngoài có in hình ảnh chiếc găng tay y tế và nhãn hiệu Boowoo Glove màu xanh, sau đó N thuê Nguyễn Anh V và Nguyễn Phúc V1 dùng băng keo dán khoảng 500 thùng giấy C và sắp xếp thành hàng tại kho; N mua khoảng 05-06 thùng găng tay y tế thành phẩm nhãn hiệu Top Glove Vglove của Công ty V3, rồi bỏ găng tay y tế nhãn hiệu Top Glove vào các vỏ hộp giấy găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo, sắp xếp vào 02 - 03 thùng găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo (10 hộp/thùng) và viết ngày, tháng lên các thùng đã sắp xếp; sau đó quay lại các đoạn phim ghi lại trong kho có hàng găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo gửi cho ông P để ông P tin tưởng N có hàng găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo sản xuất trong ngày. Ngoài ra của ông P có một khách hàng Mỹ muốn mua găng tay y tế hiệu Vglove của Công ty V3 với số lượng lớn, thì N cho biết N có người chị làm việc tại Công ty V3, có sẵn hàng trong kho. Khi khách yêu cầu thì ông P hỏi N có thể quay video hàng hóa găng tay y tế để đưa cho khách hàng, ông P sẽ trả cho N 10.000 USD về việc quay video và sẽ thưởng cho N 50% tiền lợi nhuận từ riêng giao dịch mua bán găng tay y tế hiệu Vglove của Công ty V3. Sau đó N đã tự làm video giả gửi cho ông P.
Khi tạo được niềm tin từ ông P thì N yêu cầu ông P chuyển tiền, N còn chuyển cho ông P khoảng 10 hóa đơn khống. Từ ngày 02/6/2020 đến ngày 05/8/2020, Công ty G do ông P làm giám đốc, mở tại Ngân hàng A2 (New Zealand) đã chuyển khoản 1.802.745 USD từ tài khoản 253189 vào tài khoản số [...] của Công ty B2, mở tại Phòng G1 và Công ty A1. Ltd, mở tại Ngân hàng D1 (Singapore) cũng do ông P làm giám đốc đã chuyển 214.799,39 USD từ tài khoản số 0199067291 vào tài khoản số [...] của Công ty B2, mở tại Phòng G1, Ngân hàng G1 (Việc trao đổi mua bán găng tay y tế giữa ông P Leigh Mckenzie với Nguyễn Khánh N thông qua tin nhắn “WhatsApp”. Các tin nhắn này đã được thu thập in ra thành 102 tờ, Nguyễn Khánh N ký xác nhận đây là tài liệu được trích xuất từ máy tính Macbook, đồng thời N đã ký vào từng tờ).
Sau khi chuyển các khoản tiền nêu trên, N không giao hàng cho ông P nên đến ngày 06/8/2020, ông P và Nguyễn Khánh N tiến hành cuộc họp online có sự chứng kiến của ông Frederick B là Giám đốc và bà Nguyễn Lan P1, ông Rachelle K1 là chuyên viên tư vấn của Công ty L3, địa chỉ: Tầng A, S L, phường B, Quận A, TP . Hồ Chí Minh (đối tác của ông P), nội dung cuộc họp nhằm xác định giấy phép kinh doanh của Công ty B2 có chức năng kinh doanh, xuất khẩu găng tay y tế thật hay không và khả năng cung cấp đủ 10.000.000 hộp găng tay y tế hay không và xem xét hợp đồng mua bán găng tay y tế.
Kết thúc cuộc họp các bên đã đồng ý ký kết hợp đồng mua bán găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo số NA20200805 đề ngày 06/8/2020 (N đã trực tiếp soạn thảo hợp đồng ký và đóng dấu Công ty B2, sau đó gửi file qua ứng dụng “WhatsApp” để ông P xem, ký và đóng dấu sau, nội dung hợp đồng). Theo đó, hợp đồng có các nội dung cơ bản sau: Công ty B2 bán cho Công ty G loại găng tay y tế Nitrile nhãn hiệu Boowoo, tuân thủ tiêu chuẩn của FDA, CE, ISO 13485:2016, ASTM D6319, EN455, EN374; với số lượng 10.000.000 hộp (mỗi hộp chứa 100 chiếc) x 9 tháng, đơn giá 5,9 USD/hộp; điều kiện giao hàng là: F; tổng trị giá của hợp đồng là: 59.000.000 USD; bên mua phải thu xếp 30% giá trị hợp đồng là 17.700.000 USD; bên mua nhận hàng trên cơ sở hàng tháng, trong trường hợp giao hàng từng đợt thì bên mua sẽ thanh toán tương ứng trị giá của lô hàng hiện tại; bên bán phải thông báo bằng văn bản cho bên mua khi găng tay đã sẵn sàng để giao, bên mua phải thanh toán 70% giá trị của hợp đồng; trong thời gian 36 giờ khi nhận được yêu cầu thanh toán, bên mua hàng phải thanh toán bằng hình thức chuyển khoản; hợp đồng có hiệu lực trong vòng 09 tháng kể từ ngày 06/8/2020.Sau cuộc họp online ngày 06/8/2020, đến ngày 07/8/2020, ông P chuyển thêm số tiền 499.965 USD từ tài khoản số 253189 mang tên Công ty G, mở tại Ngân hàng A2 (New Zealand) vào tài khoản số [...] của Công ty B2.
Về phía Nguyễn Khánh N có thuê dịch vụ làm thủ tục, nộp hồ sơ tại Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và các Cơ quan chức năng để đăng ký xin cấp phép sản xuất và kinh doanh, lưu hành sản phẩm găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo trong và ngoài nước nhưng chưa được cấp phép sản xuất. Đồng thời, tiến hành thuê kho của Công ty cổ phần L4 tại Cụm C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; thuê kho tại địa chỉ số B, đường T, phường T, quận T, TP .Hồ Chí Minh và nhà tại địa chỉ 1979/23/1/79 H, Khu phố F, thị trấn N, huyện N, TP . Hồ Chí Minh để làm địa chỉ đăng ký Văn phòng Chi nhánh Công ty TNHH MTV B2 và làm nhà máy sản xuất, kho chứa nguyên, vật liệu và găng tay y tế thành phẩm. Nhưng thực tế tại các kho nêu trên chỉ để trống, không gắn bảng hiệu, không có máy móc, thiết bị và không tiến hành bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh găng tay y tế.
Từ ngày 03/06/2020 đến ngày 07/11/2020, N đã nhận tổng cộng 2.517.509,39 USD, N thực hiện thủ tục online bán ngoại tệ chuyển đổi sang tiền Việt Nam và chuyển tổng số tiền 44.541.321.383 đồng vào tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Khánh N, mở tại Ngân hàng G1 - Phòng G1, TP . Hồ Chí Minh, từ đó chuyển vào các tài khoản ngân hàng trong, ngoài nước và rút toàn bộ số tiền nêu trên để sử dụng vào mục đích cá nhân như sau:
- + Nguyễn Khánh N chuyển số tiền 1.397.000.000 đồng vào tài khoản số 19028930835029 do Võ Thị Kim K (bạn của N) đứng tên, mở tại Ngân hàng T3 Chi nhánh T4 để nhờ K thực hiện các giao dịch đặt cọc số tiền 640.000.000 đồng mua xe ô tô Porsche, biển kiểm soát 51H- 636.93, số tiền còn lại nhờ K mua giày, quần, áo, thanh toán tiền ăn, uống, tiền nợ vay thế chấp tài sản đất, nhà tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, TP . Hồ Chí Minh cho Ngân hàng S - Chi nhánh N1 và nhờ K đứng tên chủ sở hữu căn nhà nêu trên;
- + N chuyển tổng số tiền 6.985.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của N số [...] và chuyển tổng số tiền 3.300.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của N số 19028368943013, mở tại Ngân hàng T3 cùng vào tài khoản số 91799188 mang tên Võ Thị Kim K, mở tại Ngân hàng G1 - Chi nhánh S1, nhờ K giao dịch mua bán vàng để kinh doanh. Sau đó, do cần tiền để giải quyết công việc của cá nhân nên N đã yêu cầu K bán vàng và chuyển toàn bộ số tiền bán được là 9.141.390.000 đồng vào tài khoản số [...];
- + Chuyển tổng số tiền 37.200.000.000 đồng để mua chứng khoán tại Công ty TNHH C1 và Công ty cổ phần C2;
- + Chuyển số tiền 592.000 USD (tương đương 13.616.000.000 đồng) để thanh toán hợp đồng với Công ty R (S) PTE.LTD, địa chỉ số A, North B, 21-26, H3;
- + Chuyển số tiền 65.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của N số [...] và số tiền 84.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của N số 19028368943013 vào tài khoản số 0721000579171 do Phạm Thị T1 đứng tên, mở tại Ngân hàng V4 để trả nợ, cho tiền đóng tiền nhà, cho tiền đóng học phí cho con của Phạm Thị T1 (T1 là dì của N);
- + Chuyển số tiền 67.000.000 đồng vào tài khoản số 0671000419007 của Nguyễn Phúc V1 (nhân viên);
- + Chuyển số tiền 102.000.000 đồng vào tài khoản số 0371000429944 do Nguyễn Anh V (nhân viên) đứng tên để trả tiền lương hàng tháng cho V1 và V;
- + Số tiền còn lại 5.737.321.383 đồng, Nguyễn Khánh N đã chuyển tiền online, Internet B1 và rút tiền mặt để sử dụng cho mục đích cá nhân khác của N.
Bên cạnh đó, N còn nhờ bà T1 đứng tên chủ sở hữu xe ô tô nhãn hiệu Porsche, biển kiểm soát: 51H-636.93, N đã sử dụng 640.000.000 đồng tiền chiếm đoạt của ông P để chuyển cho Võ Thị Kim K để nhờ K rút ra đặt cọc mua xe và sử dụng số tiền 5.767.000.000 đồng của cá nhân thanh toán tiền mua xe ô tô Porsche, mục đích là để được biển số TP. Hồ Chí Minh, thuận tiện cho công việc truyền thông và giao dịch kinh doanh của N.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Khánh N khai nhận hành vi như trên. Ngoài ra, N khai nhận trực tiếp giao dịch, thỏa thuận ký hợp đồng mua bán găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo với ông P. Võ Thị Kim K, Phạm Thị T1, Nguyễn Anh V và Nguyễn Phúc V1 hoàn toàn không biết nguồn tiền giao dịch của N và không hưởng lợi, không tham gia, không biết gì về việc mua bán găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo giữa N với ông P, chi tiết như sau:
- + Nguyễn Anh V và Nguyễn Phúc V1 (nhân viên của Nguyễn Khánh N) khai nhận: vào khoảng tháng 04/2020, V và V1 được Công ty B2 nhận vào làm nhân viên, trả lương từ 7.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng/tháng, làm công việc bốc, xếp hàng hóa; thực hiện theo yêu cầu của N, V và V1 đã sử dụng băng keo dán các giấy carton rỗng và sắp xếp thành hàng tại kho địa chỉ số B, đường T, phường T, quận T, TP. Hồ Chí Minh; sau đó, sử dụng găng tay y tế thành phẩm nhãn hiệu Top Glove bỏ vào các vỏ hộp giấy găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo và sắp xếp vào khoảng 02-03 thùng giấy (10 hộp/thùng) găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo do N đã đặt in, sử dụng bút lông đề ngày, tháng lên các thùng đã sắp xếp; đồng thời quay lại các đoạn phim về toàn bộ quá trình thực hiện và giao lại cho N. V và V1 không biết mục đích của N yêu cầu dán thùng carton rỗng và quay lại toàn bộ quá trình sản xuất như nêu trên để làm gì và không tham gia, không biết gì về việc giao dịch ký hợp đồng mua bán găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo giữa N và ông P.
- + Võ Thị Kim K khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Khánh N, đã sử dụng số tiền 184.032.000 đồng để đóng tiền nợ vay thế chấp căn nhà số A H, Khu Phố F, thị trấn N, huyện N, TP . Hồ Chí Minh.
- + Phạm Thị T1 khai nhận phù hợp lời khai của Nguyễn Khánh N, từ ngày 15/6/2020 đến ngày 07/10/2020, N đã chuyển cho T1 tổng số tiền 149.000.000 đồng, trong đó: 110.000.000 đồng là tiền N trả nợ cho T1, 39.000.000 đồng là tiền N cho T1 để mua thuốc trị bệnh, thanh toán tiền học phí cho con của T1 và thanh toán tiền thuê nhà.
- + Nguyễn Hùng V2 - Giám đốc Công ty cổ phần L4 (người cho N thuê kho) khai: Ngày 24/8/2020, Công ty cổ phần L4 thỏa thuận, ký hợp đồng cho thuê nhà xưởng với Công ty B2, theo hợp đồng công ty cho thuê nhà xưởng tại Cụm C, xã L, huyện C, tỉnh Long An với diện tích 1.500m², thuê trong thời gian từ ngày 01/09/2020 đến hết ngày 30/09/2021 với giá 90.000.000 đồng/tháng, mục đích thuê để làm xưởng sản xuất hàng hóa. Thực hiện hợp đồng, N đã thanh toán số tiền 180.000.000 đồng (bao gồm tiền cọc và tiền 01 tháng thuê nhà). Đến cuối tháng 10/2020, N thoả thuận thanh lý hợp đồng; trong quá trình thuê kho, Công ty B2 không treo bảng hiệu, không có bất cứ hoạt động nào liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh găng tay y tế.
- Ngoài ra ông Văn Hồng T2 (người cho N thuê kho), khai: Ngày 01/06/2020, T2 thỏa thuận, ký hợp đồng thuê kho tại địa chỉ số B đường T, phường T, quận T, TP . Hồ Chí Minh với Công ty TNHH T5 do ông Võ Văn H2 làm đứng tên người đại diện theo pháp luật, thuê với giá 10.000.000 đồng/tháng, mục đích thuê để làm kho chứa hàng hóa, thuê trong thời gian từ ngày 01/06/2020 đến ngày 31/12/2020. Thông qua giới thiệu của anh Đặng Đức Q, T2 cho Nguyễn Khánh N thuê lại với giá 10.000.000 đồng (không ký hợp đồng); T2 có đến kiểm tra và phát hiện kho có chứa nhiều thùng carton rỗng và có nhân viên của N quay phim, chụp ảnh; ngoài ra không chứa hàng hóa gì khác, N đã trả lại kho vào ngày 28/10/2020.
- Xác minh tại Văn phòng Cục Sở hữu trí tuệ tại TP . Hồ Chí Minh, xác định: Không tìm thấy thông tin bảo hộ tại Việt Nam đối với nhãn hiệu “Boowoo” cho sản phẩm găng tay y tế.
- Xác minh tại Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: Đã cấp 03 số tiếp nhận tiêu chuẩn áp dụng của trang thiết bị y tế thuộc loại A; cấp 02 số tiếp nhận đủ điều kiện tiêu chuẩn sản xuất trang thiết bị y tế đối với găng tay y tế và khẩu trang y tế cho Công ty B2.
- Ngày 07/10/2020, Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thành lập Đoàn kiểm tra tại địa chỉ 1 H, Khu phố F, thị trấn N, huyện N, Tp . Hồ Chí Minh (địa chỉ Công ty B2 đăng ký địa chỉ sản xuất) phát hiện không treo bảng hiệu và khóa cửa, không thấy dấu hiệu của một cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế.
- Xác minh tại Công ty cổ phần V3, xác định: Từ khoảng thời gian đầu năm 2020, công ty không thỏa thuận hoặc ký hợp đồng mua bán găng tay y tế Nitrile (không bột) nhãn hiệu Vglove tiêu chuẩn Quốc tế với Công ty B2, Nguyễn Khánh N hoặc người đại diện có liên quan.
- Xác minh tại Công ty cổ phần C2, xác định: Vào ngày 06/10/2020, Nguyễn Khánh N đã thực hiện thành công các giao dịch chuyển tổng số tiền 5.000.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân số [...] vào tài khoản số 003C070578 do Nguyễn Khánh N đứng tên, mở tại Công ty cổ phần C2 để giao dịch mua bán chứng khoán. Tính đến ngày 05/10/2021, trong tài khoản số 003C070578, hiện có số dư chứng khoán như sau: 47.712 cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Q1 (V5); 750 cổ phiếu của Ngân hàng G1 (G1); 216 cổ phiếu của Công ty cổ phần S2 (VNM); đồng thời có số dư tiền là 4.683.922 đồng.
- Xác minh tại Công ty TNHH C1, xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/08/2020 đến ngày 02/10/2020, Nguyễn Khánh N đã thực hiện thành công các giao dịch chuyển tổng số tiền 35.300.000.0000 đồng từ tài khoản cá nhân số [...] vào tài khoản số C780902 do Nguyễn Khánh N đứng tên, mở tại Công ty TNHH C1 để giao dịch mua bán chứng khoán; vào ngày 29/9/2020, N đã thực hiện giao dịch rút tiền ứng trước bán cổ phiếu chứng khoán là 3.100.000.000 đồng.
- Tính đến ngày 05/10/2021, trong tài khoản số C780902, hiện có số dư là chứng khoán như sau: 2.016.000 cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Q1 (V5); đồng thời có số dư tiền là 684.859.351 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 610/2022/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh N 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2020.
2. Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ Điều 30; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và căn cứ Điều 122; Điều 123; Điều 124; Điều 131; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với thửa đất số 984, tờ bản đồ số 38, diện tích 55,9m2, tọa lạc tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa bà Võ Thị Kim K và bà Nguyễn Thị Kim A, lập tại Văn phòng C3, ngày 17/5/2023, số công chứng: 001292, quyển số: 05/2023TP/CC-SCC/HĐGD, vô hiệu. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 1625-08/LKB-PC03-Đ9 ngày 22/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H đối với thửa đất số 984, tờ bản đồ số 38, diện tích 55,9m2, tọa lạc tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, để bảo đảm cho nghĩa vụ thi hành án của Nguyễn Khánh N trong vụ án này.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 28/12/2023, bị cáo Nguyễn Khánh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A kháng cáo phần dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Khánh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A rút toàn bộ kháng cáo phần dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:
Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A rút toàn bộ kháng cáo phần dân sự là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Kim A.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo N: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường xong cho 02 bị hại toàn bộ số tiền 56.700.000.000 đồng đã chiếm đoạt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
Xử phạt bị cáo từ 13 đến 14 năm tù; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường xong thiệt hại cho bị hại, hủy lệnh kê biên và tuyên trả lại toàn bộ tài sản bị kê biên cho bị cáo.
Các Luật sư Phan Văn H1 và Phạm Thị Thanh T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N trình bày:
Tại phiên tòa sơ thẩm, do bị cáo trình bày không rõ ràng nên Hội đồng xét xử chỉ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải “với mức độ hạn chế”. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm sau khi nghe luật sư giải thích và nghe Hội đồng xét xử thẩm vấn bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội một cách rõ ràng và ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo đã tác động để mẹ của bị cáo đi vay mượn một số tiền rất lớn (56.700.000.000 đồng) để bồi thường xong cho người bị hại, đây là một tình tiết hết sức đặc biệt và có ý nghĩa nhằm khắc phục thiệt hại cho bị hại; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên các luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường xong thiệt hại cho bị hại và hủy các lệnh kê biên, trả lại toàn bộ tài sản bị kê biên cho bị cáo.
- Luật sư Nguyễn Sa L bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bị hại: Trước ngày xét xử phúc thẩm, mẹ của bị cáo đi vay mượn một số tiền rất lớn (56.700.000.000 đồng) để bồi thường khắc phục xong toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường xong thiệt hại cho bị hại và hủy lệnh kê biên, trả lại toàn bộ tài sản bị kê biên cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A rút toàn bộ kháng cáo phần dân sự là tự nguyện, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Kim A.
[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Khánh N là trong hạn luật định và hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Khánh N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Nguyễn Khánh N là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV B2 (Công ty B2). Bản thân N và Công ty B2 không có găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo để bán và chưa đăng ký nhãn hiệu và chưa đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo. Nhưng khi ông P Leigh Mckenzie sử dụng ứng dụng “WhatsApp” để liên lạc, nhắn tin, trao đổi với Nguyễn Khánh N về việc yêu cầu N cung cấp găng tay y tế hiệu Vglove của Công ty CP V3 thì N vẫn thỏa thuận đồng ý để sản xuất, xuất khẩu bán cho ông P găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo của Công ty B2.
Để tạo lòng tin cho ông P, bị cáo đã lấy các hình ảnh nhà máy sản xuất găng tay trên mạng Internet để gửi cho ông P, sau đó đặt in 1.000 vỏ thùng giấy carton bên ngoài có in hình ảnh chiếc găng tay y tế và nhãn hiệu Boowoo màu xanh của công ty B2. Sau đó N thuê Nguyễn Anh V và Nguyễn Phúc V1 dùng băng keo dán khoảng 500 thùng giấy C và sắp xếp thành hàng tại kho. Nguyên mua khoảng 05-06 thùng găng tay y tế thành phẩm nhãn hiệu Top Glove Vglove của Công ty V3, rồi bỏ găng tay y tế nhãn hiệu Top Glove vào các vỏ hộp giấy găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo, sắp xếp vào 02 - 03 thùng găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo (10 hộp/thùng) và viết ngày, tháng lên các thùng đã sắp xếp; Sau đó quay video lại thành các đoạn phim ghi hình lại trong kho có hàng găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo gửi cho ông P để ông P tin tưởng N có găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo sản xuất trong ngày. Khi tạo được niềm tin từ ông P thì N yêu cầu ông P chuyển tiền, N còn chuyển cho ông P khoảng 10 hóa đơn khống. Từ ngày 02/6/2020 đến ngày 05/8/2020, công ty G do ông P làm giám đốc, mở tại Ngân hàng A2 (New Zealand) đã chuyển khoản 1.802.745 USD từ tài khoản 253189 vào tài khoản số [...] của công ty B2, mở tại Phòng G1 và công ty A1. Ltd, mở tại Ngân hàng D1 (Singapore) cũng do ông P làm giám đốc đã chuyển 214.799,39 USD từ tài khoản số 0199067291 vào tài khoản số [...] của công ty B2, mở tại Ngân hàng G1, Phòng G1.
Sau khi nhận được số tiền nêu trên, Nguyễn Khánh N không giao găng tay y tế hiệu Boowoo, nên đến ngày 06/8/2020, ông P và N tiến hành cuộc họp online dưới sự chứng kiến ông Frederick B bà Nguyễn Lan P1 và ông Rachelle K1 của Công ty L3 để xác định thêm về Công ty B2 có chức năng kinh doanh, xuất khẩu găng tay y tế thật hay không và khả năng cung cấp đủ 10.000.000 hộp găng tay y tế hay không. Kết thúc cuộc họp các bên đã đồng ý ký kết hợp đồng mua bán găng tay y tế nhãn hiệu Boowoo số NA20200805 đề ngày 06/8/2020 (N đã trực tiếp soạn thảo và gửi file qua ứng dụng “WhatsApp” cho ông P). Đến ngày 07/8/2020 công ty G, tiếp tục chuyển số tiền 499.965 USD từ tài khoản số 253189 mở tại Ngân hàng A2 cho N thông qua tài khoản số [...] của Công ty B2 mở tại ngân hàng G1. Tổng số tiền mà Nguyễn Khánh N đã chiếm đoạt của công ty G và công ty A1. Ltd, là: 2.517.509,39 USD.
Sau khi nhận số 2.517.509,39 USD, N đã chiếm đoạt số tiền ngoại tệ này bằng cách chuyển đổi ngoại tệ trên thành 44.541.321.383 đồng rồi chuyển toàn bộ số tiền đồng vào tài khoản 988888638 của N tại Ngân hàng G1, từ đó chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng trong, ngoài nước, rút tiền sử dụng vào các mục đích cá nhân.
[4]. Theo Văn bản số 2872/HCM-QLNHV ngày 12/11/2021 của Ngân hàng N2, chi nhánh Thành phố T4 về tỷ giá ngoại tệ giữa VND với USD tại thời điểm các ngày 03/6, 11/6, 15/6, 29/6, 30/6, 20/7, 30/7, 31/7, 03/8, 05/8 và 06/8/2020, thì số tiền 2.517.509,39 USD bị cáo Nguyễn Khánh N chiếm đoạt của 02 bị hại có giá trị quy đổi sang VND là 58.435.058.512 đồng.
[5]. Xét lời thừa nhận nêu trên của bị cáo phù hợp với các lời khai của 02 nhân viên làm việc cho N là ông Nguyễn Anh V, ông Nguyễn Phúc V1 và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (Bút lục 458-464; 467-473; 467-473; 348-349) và các vật chứng thu giữ được trong vụ án, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Khánh N đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không xét xử oan sai đối với bị cáo.
[6]. Hành vi của bị cáo chiếm đoạt số tiền 58.435.058.512 đồng là rất lớn, phạm tội nhiều lần, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân có yếu tố nước ngoài, ảnh hưởng niềm tin của các doanh nghiệp nước ngoài đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong các giao thương quốc tế. Nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 năm tù là không nặng.
[7]. Tuy nhiên, do bị cáo khai nhận tại phiên tòa cấp sơ thẩm chưa rõ ràng nên toà án cấp sơ thẩm chỉ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải “với mức độ hạn chế”. Tại phiên tòa phúc thẩm sau khi nghe luật sư giải thích bị cáo đã khai nhận đầy đủ toàn bộ hành vi phạm tội và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải “với mức độ đầy đủ”. Hơn nữa, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã tác động với bà Nguyễn Thị Kim A (mẹ ruột của bị cáo) để bà Kim A bồi thường xong toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt của 02 bị hại, với số tiền rất lớn là 56.700.000.000 đồng (Đây là tình tiết giảm nhẹ mới).
[8]. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; có nhân thân tốt; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt cũng bảo tính giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[9]. Về bồi thường dân sự: Tổng số tiền bị cáo N chiếm đoạt của người bị hại là 58.435.058.512 đồng (năm mươi tám tỷ, bốn trăm ba mươi lăm triệu, không trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm mười hai đồng). Tòa án cấp sơ thẩm đã xử lý số tiền 1.726.770.086 đồng (một tỷ, bảy trăm hai mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn, không trăm tám mươi sáu đồng) thu giữ được của bị cáo, tuyên trả cho bị hại là Công ty G số tiền 1.579.476.598 đồng (một tỷ, năm trăm bảy mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng) và trả cho bị hại là Công ty A1. LTD số tiền 147.293.488 đồng (một trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng). Như vậy tổng số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường cho 02 công ty bị hại là: 56.672.228.426 (năm mươi sáu tỷ, sáu trăm bảy mươi hai triệu, hai trăm hai mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo N phải bồi thường cho 02 công ty bị hại là: 56.708.288.426đ (trong đó buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty G số tiền 51.871.071.423 đồng và bồi thường cho Công ty A1. LTD số tiền 4.837.217.003đ) là có thiếu sót.
[10]. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bà Nguyễn Thị Kim A (mẹ ruột của bị cáo) đã tự nguyện thỏa thuận với người đại diện ủy quyền của bị hại là 02 Công ty nêu trên là ông Lương Việt D bồi thường xong cho 02 Công ty bị hại tổng số tiền là 56.700.000.000đ (năm mươi sáu tỷ, bảy trăm bảy triệu đồng). cụ thể:
Ngày 24/9/2024, bà Nguyễn Thị Kim A chuyển số tiền 22.000.000.000₫ (hai mươi hai tỷ Việt Nam đồng) vào tài khoản số 910256120400001 của ông Lương Việt D mở tại Ngân hàng N3 (Phiếu thu ngày 24/9/2024 của Ngân hàng N3).
Ngày 24/9/2024, bà Nguyễn Thị Kim A chuyển số tiền 18.000.000.000₫ (mười tám tỷ Việt Nam đồng) vào tài khoản số 910256120400001 của ông Lương Việt D mở tại Ngân hàng N3 (Phiếu thu ngày 24/9/2024 của Ngân hàng N3).
Ngày 24/9/2024, bà Nguyễn Thị Kim A chuyển từ tài khoản của bà Kim A số 100255984500001 mở tại Ngân hàng N3 chuyển số tiền 16.700.000.000₫ (mười sáu tỷ bảy trăm triệu Việt Nam đồng) vào tài khoản số 910256120400001 của ông Lương Việt D mở tại Ngân hàng N3 (Ủy nhiệm chi ngày 24/9/2024 của Ngân hàng N3).
[11]. Như vậy, việc mẹ của bị cáo đã thỏa thuận với ông Lương Việt D bồi thường xong toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận, trong đó bị cáo đã bồi thường xong cho Công ty G số tiền 51.871.071.423 đồng và bồi thường cho Công ty A1. LTD số tiền 4.837.217.003₫.
[12]. Về xử lý vật chứng:
Do bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại nên cần hủy các lệnh kê biên và trả lại tài sản sau cho bị cáo Nguyễn Khánh N:
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08 ngày 20/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với 2.016.000 (hai triệu, không trăm mười sáu nghìn) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Q1 (V5) có trong tài khoản số C780902 của bị cáo Nguyễn Khánh N mở tại Công ty TNHH C1.
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08A ngày 20/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Min đối với 47.712 (bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm mười hai) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Q1 (V5); 750 (bảy trăm năm mươi) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Á (G1); 216 (hai trăm mười sáu) cổ phiếu Công ty Cổ phần S2 (V6) có trong tài khoản số 003C070578 của bị cáo Nguyễn Khánh N mở tại Công ty Cổ phần C2.
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08/LKB-PC03-Đ9 ngày 22/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Min đối với thửa đất số 984, tờ bản đồ số 38, diện tích 55,9m2, tọa lạc tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh của bị cáo Nguyễn Khánh N.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh N các tài sản bị kê biên nêu trên và các tài sản sau: 01 (một) xe ô tô con có 05 chỗ, nhãn hiệu BMW, màu trắng, biển kiểm soát số hiệu 51F-714.63, đã qua sử dụng và 01 (một) xe ô tô có 04 chỗ, nhãn hiệu Porsche, màu xám, biển kiểm soát số hiệu 51H-636.93, đã qua sử dụng (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/6/2021 tại Kho vật chứng PC10 Công an Thành phố H).
[13]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường xong thiệt hại cho bị hại và tuyên hủy lệnh kê biên trả lại toàn bộ tài sản bị kê biên cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[14]. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, nhưng các luật sư đề nghị cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ bị cáo chiếm đoạt số tiền rất lớn.
[15]. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Khánh N không phải chịu;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà bà Nguyễn Thị Kim A rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa nên không phải chịu.
[16]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim A đối với diện tích 55,9m2, tọa lạc tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Khánh N.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 610/2022/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Khánh N 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2020.
2. Về bồi thường dân sự và xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ Điều 30; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và căn cứ Điều 122; Điều 123; Điều 124; Điều 131; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim A (mẹ bị cáo) đã tự nguyện bồi thường xong cho Công ty G số tiền 51.871.071.423 (năm mươi mốt tỷ, tám trăm bảy mươi mốt triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm hai mươi ba đồng VND) thay cho bị cáo Nguyễn Khánh N;
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim A (mẹ bị cáo) đã tự nguyện bồi thường xong cho Công ty A1. LTD số tiền 4.837.217.003đ (bốn tỷ tám trăm ba mươi bảy triệu, hai trăm mười bảy nghìn, không trăm không chục lẻ ba đồng VND) thay cho bị cáo Nguyễn Khánh N;
Do ông Lương Việt D là người đại diện được ủy quyền của bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên, nên ông Lương Việt D có nghĩa vụ chuyển lại số tiền nêu trên cho Công ty G và Công ty A1. LTD.
Ngoài số tiền bồi thường đã nhận nêu trên, Công ty G còn được nhận số tiền 1.579.476.598 đồng (một tỷ, năm trăm bảy mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng); Công ty A1. LTD còn được nhận số tiền 147.293.488 đồng (một trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng) như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08 ngày 20/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố H đối với 2.016.000 (hai triệu, không trăm mười sáu nghìn) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Q1 (V5) có trong tài khoản số C780902 của bị cáo Nguyễn Khánh N mở tại Công ty TNHH C1.
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08A ngày 20/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố H đối với 47.712 (bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm mười hai) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Q1 (V5); 750 (bảy trăm năm mươi) cổ phiếu Ngân hàng TMCP Á (G1); 216 (hai trăm mười sáu) cổ phiếu Công ty Cổ phần S2 (V6) có trong tài khoản số 003C070578 của bị cáo Nguyễn Khánh N mở tại Công ty Cổ phần C2.
Hủy Lệnh kê biên tài sản số 1625-08/LKB-PC03-Đ9 ngày 22/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H đối với thửa đất số 984, tờ bản đồ số 38, diện tích 55,9m2, tọa lạc tại địa chỉ 1979/23/1/79 đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh của bị cáo Nguyễn Khánh N.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh N các tài sản bị kê biên nêu trên và các tài sản sau: 01 (một) xe ô tô con có 05 chỗ, nhãn hiệu BMW, màu trắng, biển kiểm soát số hiệu 51F-714.63, đã qua sử dụng và 01 (một) xe ô tô có 04 chỗ, nhãn hiệu Porsche, màu xám, biển kiểm soát số hiệu 51H-636.93, đã qua sử dụng (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/6/2021 tại Kho vật chứng PC10 Công an Thành phố H).
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Khánh N không phải chịu;
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0031703 ngày 18/01/2024 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 919/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 919/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khánh N phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015.
