Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 918/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Nhung

2. Ông Nguyễn Đình Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1112/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1366/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q1

Địa chỉ: A P, phường B, Quận A, TP ..

Người đại điện theo uỷ quyền: Ông Vương Quốc H (Theo Giấy uỷ quyền số 093219.24 ngày 13/05/2024)

Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1964

2. Ông Chu Bá T, sinh năm: 1960 (chết năm 2021) - Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T: Bà Chu Thị T1, sinh năm : 1984 và ông Chu Bá D, sinh năm: 1986

Cùng địa chỉ: A N, phường T, quận T, TP ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Chu Thị T1, sinh năm: 1984

2. Bà Vũ Thị N, sinh năm: 1991

3. Trẻ Chu Thị Ngọc L, sinh năm: 2013

4. Trẻ Chu Bá Việt A, sinh năm: 2017

(Người đại diện theo pháp luật của trẻ L, trẻ Anh: Bà Vũ Thị N)

5. Ông Chu Bá D, sinh năm: 1986

6. Trẻ Nguyễn Trọng T2, sinh năm: 2014

7. Trẻ Nguyễn Trọng Q, sinh năm: 2012

(Người đại diện theo pháp luật của trẻ T2, trẻ Q: Bà Chu Thị T1)

Cùng địa chỉ: A N, phường T, quận T, TP ..

(Ông H có mặt; bà C, bà T1, ông D, bà N, trẻ L và trẻ A (do bà N là người đại diện hợp pháp), trẻ T2 và trẻ Q (do bà T1 là người đại diện hợp pháp) vắng mặt không có lý do chính đáng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q1 (Sau đây gọi là V) đã ký với bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T các Hợp đồng tín dụng như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T vay số tiền 1.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/11/2028; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12,3%/năm, lãi suất này sẽ được V chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc hàng tháng vào ngày 26, số tiền trả nợ hàng tháng theo lịch cụ thể như sau: từ tháng thứ 01 đến tháng thứ 36: 8.000.000 đồng/tháng, từ tháng thứ 37 đến tháng thứ 95: 11.866.000 đồng/tháng, tháng thứ 96: số tiền còn lại; Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 26/12/2020. Trả phí theo quy định của V từng thời kỳ.

Ngày 26/11/2020, V đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1804184(1).20 với số tiền 1.000.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

- Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T vay số tiền 2.300.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: bổ sung vốn sản xuất kinh doanh hàng may mặc; Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/11/2021; Lãi suất tại thời điểm giải ngân 8.8%/năm, lãi suất này sẽ được V chủ động điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 1%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: cuối kỳ; Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 26/12/2020; Trả phí theo quy định của V từng thời kỳ.

Ngày 26/11/2020, V đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5383368.20 với số tiền 2.300.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

- Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T vay số tiền 3.900.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: bù đắp tiền nhận chuyển nhượng bất động sản tại địa chỉ số B N, Phường C, quận G, TP .; Thời hạn vay: 120 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/11/2030; Lãi suất tại thời điểm giải ngân 9,3%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + 3,1%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng, hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm.

Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng vào ngày 26, lịch trả nợ hàng tháng cụ thể như sau: từ tháng thứ 01 đến tháng thứ 36: 8.200.000 đồng/tháng, từ tháng thứ 37 đến tháng thứ 119: 42.914.000 đồng/tháng, tháng thứ 120: số tiền còn lại; Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 26/12/2020; Trả phí theo quy định của V từng thời kỳ.

Ngày 26/11/2020, V đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7317844(2).20 với số tiền 3.900.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

- Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 18/05/2021 với nội dung: VIB cấp hạn mức tín dụng cho bà Nguyễn Thị C theo thẻ tín dụng có số thẻ 5130940000177040, loại thẻ: Traval Élite. Hạn mức: 150.000.000 đồng. Lãi và phí theo quy định của V từng thời kỳ.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại địa chỉ: A (nay là A) N, Phường A, quận T (nay là phường T, quận T), TP theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP . cấp ngày 26/6/2001, cập nhật chuyển nhượng ngày 25/02/2008 cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2395336.20.675 ngày 25/11/2020, công chứng ngày 25/11/2020 tại Văn phòng C1, TP ., số công chứng: 029049, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/11/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký, vì vậy, V đã chuyển khoản vay của khách hàng sang nợ quá hạn từ ngày 26/05/2021.

Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T đã trả cho V số tiền tổng cộng là 365.425.000 đồng (trong đó: nợ gốc 81.000.000 đồng, lãi 284.425.000 đồng) và còn nợ VIB số tiền là 11.419.895.507 đồng, trong đó:

- Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020: Nợ gốc là 3.859.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 326.214.460 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.096.891.457 đồng, tổng cộng 6.282.105.917 đồng;

- Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 119.776.440 đồng, nợ lãi quá hạn là 899.468.183 đồng, tổng cộng 3.319.244.623 đồng;

- Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020: Nợ gốc là 960.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 94.784.358 đồng, nợ lãi quá hạn là 543.145.142 đồng, tổng cộng 1.597.929.500 đồng;

- Thẻ số 5130940000177040 ngày 18/5/2021: Nợ gốc là 101.299.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 0 đồng, nợ lãi quá hạn là 64.299.350 đồng, phí 55.017.117 đồng, tổng cộng 220.615.467 đồng.

Tổng hợp nợ gốc là 7.220.299.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 540.775.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.603.804.132 đồng, tiền phí 55.017.117 đồng, tổng số tiền còn nợ là 11.419. 895.507 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu Tòa giải quyết:

- Buộc bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T là: bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D) phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 11.419. 895.507 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 7.220.299.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 540.775.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.603.804.132 đồng, tiền phí 55.017.117 đồng.

- Ngoài ra, VIB được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Chu Bá T là bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký.

- Trong trường hợp bà Nguyễn Thị C và bà T1 ông D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V, đề nghị Tòa án tuyên VIB có quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại địa chỉ: A (nay là A) N, Phường A, quận T (nay là phường T, quận T), TP . theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP . cấp ngày 26/6/2001, cập nhật chuyển nhượng ngày 25/02/2008 cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.

- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình hòa giải tại Tòa án, bị đơn - Bà C trình bày:

Bà Nguyễn Thị C xác nhận có ký các hợp đồng tín dụng như phần trình bày của đại diện Ngân hàng TMCP Q1. Do ông Chu Bá T đã mất nên kinh tế của gia đình gặp khó khăn, chính vì vậy bà có chậm trễ trong việc đóng tiền theo các hợp đồng đã ký kết. Nay đối với yêu cầu của Ngân hàng, bà C đồng ý có trách nhiệm trả số nợ này, nhưng đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để bà thực hiện việc kê khai di sản thừa kế và thu xếp tiền trả nợ. Trong trường hợp gia đình không có khả năng trả nợ, bà C đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tại địa chỉ: A (nay là A) N, Phường A, quận T (nay là phường T, quận T), TP . theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP . cấp ngày 26/6/2001, cập nhật chuyển nhượng ngày 25/02/2008 để thu Ngân hàng hồi nợ.

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Ông Vương Quốc H - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.

- Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt mà không có lý do chính đáng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Án phí đề nghị tính theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn là bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về đưa người tham gia tố tụng vào trong vụ án: Sau khi bà C và ông T ký các hợp đồng tín dụng để vay vốn của V, ngày 06/12/2021, ông Chu Bá T chết (Theo Giấy khai tử số 285/2021 ngày 14/12/2021). Những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ông T là: ông Chu Bá U (cha ruột) đã chết theo giáy khai tử số 03 ngày 01/9/1988, bà Trần Thị M (mẹ ruột) đã chết theo giấy chứng tử số 13 năm 1999, bà Nguyễn Thị C (vợ), bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D (con ruột) nên Tòa án đưa bà T1, ông D vào tham gia tố tụng với tư cách người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn - bà Nguyễn Thị C, bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan là bà Chu Thị T1, bà Vũ Thị N, trẻ Chu Thị Ngọc L và trẻ Chu Bá Việt A (Người đại diện theo pháp luật của trẻ L, trẻ Anh là bà Vũ Thị N), ông Chu Bá D, trẻ Nguyễn Trọng T2 và trẻ Nguyễn Trọng Q (Người đại diện theo pháp luật của trẻ T2, trẻ Q là bà Chu Thị T1) đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D phải thanh toán cho VIB số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 11.419. 895.507 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 7.220.299.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 540.775.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.603.804.132 đồng, tiền phí 55.017.117 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020; Thẻ số 5130940000177040 ngày 18/5/2021 thì có căn cứ xác định giữa Ngân hàng TMCP Q1 và bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T đã giao kết các hợp đồng tín dụng.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, bà C và ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân quậnTân Phú yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ là có cơ sở. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 11.419. 895.507 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 7.220.299.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 540.775.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.603.804.132 đồng, tiền phí 55.017.117 đồng đồnglà phù hợp với các điều khoản các bên đã thoả thuận trong hợp đồng, có căn cứ, không trái luật nên có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Xét về mức lãi suất, phí và các chi phí khác Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải chịu, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bên đã thoả thuận về mức lãi suất và ghi nhận tại Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020; Thẻ số 55130940000177040ngày 18/5/2021, việc thoả thuận về lãi suất của các bên phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính lãi và phí của bị đơn đối với nguyên đơn.

[2.3] Về thời hạn và phương thức thanh toán: Việc thanh toán các khoản vay tín dụng đã quá thời hạn, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng, chính vì vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ làm một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 01/10/2024, bà C, bà T1, ông D còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020; Thẻ số 55130940000177040 ngày 18/5/2021và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung kèm theo cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2.4] Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ: Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận đã được ký giữa các bên tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2395336.20.675 ngày 25/11/2020. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu: Trong trường hợp bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thìNgân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại địa chỉ: A (nay là A) N, Phường A, quận T (nay là phường T, quận T), TP . theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP. cấp ngày 26/6/2001, cập nhật chuyển nhượng ngày 25/02/2008 cho bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T là phù hợp với Điều 299, Điều 317, Điều 320 và Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại.

Trường hợp bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D đã thanh toán tất cả các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 phải hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP . cấp ngày 26/6/2001 cho bà C, bà T1, ông D.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có cơ sở nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số nợ phải thanh toán là 119.419.896 đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 57.735.822 đồng cho Ngân hàng TMCP Q1 biên lai thutạm ứng án phí số 0034825 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227,khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 321, Điều 351, Điều 463, Điều 466, Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng TMCP Q1.

Buộc bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền còn nợ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020; Thẻ số 55130940000177040 ngày 18/5/2021 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung kèm theo tính đến ngày 30/9/2024 là: 11.419. 895.507 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 7.220.299.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 540.775.258 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.603.804.132 đồng, tiền phí 55.017.117 đồng.

Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 01/10/2024, bà C, bà T1, ông D còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7317844.20 ngày 21/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 5383368.20 ngày 26/11/2020; Hợp đồng tín dụng số 1804184.20 ngày 21/11/2020; Thẻ số 55130940000177040 ngày 18/5/2021 và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung kèm theo cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thìNgân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất tại địa chỉ: A (nay là A) N, Phường A, quận T (nay là phường T, quận T), TP. theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP. cấp ngày 26/6/2001, cập nhật chuyển nhượng ngày 25/02/2008 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị C và ông Chu Bá T để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại.

Trường hợp bà Nguyễn Thị C và bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D đã thanh toán tất cả các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 phải hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số phát hành: 70127310219, hồ sơ gốc số: 11328/2001 do UBND quận T, TP . cấp ngày 26/6/2001 cho bà C, bà T1, ông D.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị C, bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là119.419.896 đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 57.735.822 đồng cho Ngân hàng TMCP Q1 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0034825 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chi phí tố tụng (định giá, xem xét thẩm định tại chỗ):

là 3.500.000 đồng do bà Nguyễn Thị C, bà Chu Thị T1, ông Chu Bá D2. Bà C, bà T1, ông D có trách nhiệm hoàn trả số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Q1.

4. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP Q1 được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị C, bà Chu Thị T1 và ông Chu Bá D, bà Vũ Thị N, trẻ Chu Thị Ngọc L và trẻ Chu Bá Việt A (Người đại diện theo pháp luật của trẻ L, trẻ Anh là bà Vũ Thị N), trẻ Nguyễn Trọng T2 và trẻ Nguyễn Trọng Q (Người đại diện theo pháp luật của trẻ T2, trẻ Q là bà Chu Thị T1) được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Phú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Huyền Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 918/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 918/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger