|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 918/2024/DS-ST
Ngày: 19 - 9 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Mai Lan.
- Ông Nguyễn Văn Soan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 252/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 460/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 343/2024/QÐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: Số B, đường N, Phường V, Quận C, T phồ Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đức T1, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phồ Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số B (số M) đường P, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông Trần Đức T1 trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Ánh L theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019, số thẻ: 486265-6465, hạn mức thẻ là 25.000.000 đồng; Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – Là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.
Từ lúc cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Ánh L đã sử dụng tổng số tiền là: 54.458.000 đồng, (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản Điều khoản và điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thể tín dụng của ngân hàng). Kể từ ngày sử dụng thẻ đến nay, bà L đã thanh toán được tổng số tiền là: 53.910.000 đồng. Do chủ thẻ không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng, cũng như qua nhiều lần làm việc,nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ nên căn cứ quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà L không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng nên ngày 23/9/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải thanh toán khoản nợ trên tạm tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng yêu cầu bà L phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Trần Đức T1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 20/9/2024 yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến ngày bà Nguyễn Thị Ánh L thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng bà Nguyễn Thị Ánh L vẫn vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình và do Tòa án thu thập được: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện bà Nguyễn Thị Ánh L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải trả tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh còn thiếu cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà L vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Do bà Nguyễn Thị Ánh L không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án nên Hội đồng xét xử không ghi nhận được ý kiến của bà Nguyễn Thị Ánh L, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, với lãi suất 2.6%/tháng.
Căn cứ vào Bảng tính chi tiết quá trình sử dụng thẻ tín dụng của bà Nguyễn Thị Ánh L do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Từ lúc cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Ánh L đã thực hiện các giao dịch thanh toán bằng thẻ với tổng số tiền là 54.458.000 đồng. Kể từ ngày sử dụng thẻ đến nay, bà L đã thanh toán được tổng số tiền là: 53.910.000 đồng. Do bà L không thanh toán thêm khoản nào nữa nên ngày 23/9/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển số tiền nợ thẻ tín dụng sang nợ quá hạn, số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền chưa thanh toán tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 đồng. Kể từ ngày 20/9/2024, yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến ngày bà L thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét việc bà Nguyễn Thị Ánh L không thanh toán tiền cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải trả số tiền trên là có căn cứ. Mặt khác, xét về trách nhiệm trả nợ, Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản vay dưới hình thức tín dụng cá nhân và nguyên đơn chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L có trách nhiệm trả nợ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Ánh L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền chưa thanh toán của thẻ tín dụng cấp ngày 15/01/2019 tạm tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh L phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 20/9/2024 đến ngày bà L thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức với lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Ánh L phải chịu tiền án phí là 3.054.360 đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 1.314.706 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012835 ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S:
Bà Nguyễn Thị Ánh L có trách nhiệm trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là: 61.087.190 (sáu mươi mốt triệu không trăm tám mươi bảy ngàn một trăm chín mươi) đồng. Trong đó, nợ gốc là: 25.048.631 (hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi tám ngàn sáu trăm ba mươi mốt) đồng, lãi quá hạn là: 36.038.559 (ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi tám ngàn năm trăm năm mươi chín) đồng. Trả một lần ngay khi sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 20/9/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15/01/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị Ánh L phải chịu tiền án phí là: 3.054.360 (ba triệu không trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi) đồng.
- - Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 1.314.706 (một triệu ba trăm mười bốn ngàn bảy trăm lẻ sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012835 ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Ánh L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 918/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 918/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
