Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 917/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-7-2024.

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Phạm Thị Ngọc.
  • 2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 261/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 369/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Tài E, sinh năm: 1988. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Số H N, phường T, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • Bị đơn: Bà Nguyễn Thái T, sinh năm: 1987. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ C, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/02/2024 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 Em trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thái T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2019 có Giấy chứng nhận kết hôn số 30/20149 do Ủy ban nhân dân B, huyện C, TP . cấp ngày 13/3/2019.

Tuy nhiên thời gian hạnh phúc không được bao lâu thì trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã, làm cho gia đình mất hạnh phúc. Từ năm 2019, ông đi làm ăn xa để hai (02) con chung sống với mẹ, sau này ông trở về cùng chung sống với vợ để giữ lấy cuộc hôn nhân. Vì không muốn các con thiếu tình thương. Nhưng cuộc hôn nhân không đi đến kết quả tốt đẹp, tình cảm vợ chồng đã không còn, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên nay ông E làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với bà T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 10/10/2016 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 01/02/2019. Hiện tại, bà T đang nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông E đồng ý giao 02 (hai) con chung cho bà T nuôi dưỡng. Ông E cấp dưỡng mỗi tháng cho mỗi trẻ là 2.000.000đồng, việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 tây hằng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 8/2024 cho đến khi 02 (hai) con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Ông E xác định không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Ông E không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn bà Nguyễn Thái T: Vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn T1 Em và bà Nguyễn Thái T là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thái T cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thái T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà T.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Xét về quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn Tài E và bà Nguyễn Thái T có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2019 ngày 13/3/2019, đây là hôn nhân hợp pháp.

Ông E trình bày thời gian đầu ông và bà T sống rất hạnh phúc, nhưng không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã, làm cho gia đình mất hạnh phúc. Từ năm 2019, ông đi làm ăn xa để hai (02) con chung sống với mẹ, sau này ông trở về cùng chung sống với vợ để giữ lấy cuộc hôn nhân. Vì không muốn các con thiếu tình thương. Nhưng cuộc hôn nhân không đi đến kết quả tốt đẹp, tình cảm vợ chồng đã không còn, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên nay ông làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi được ly hôn với bà T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với ông E nên Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông E và bà T đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông E.

[4] Về con chung:

Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 10/10/2016 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 01/02/2019. Hiện tại, bà T đang nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông E đồng ý giao 02 (hai) con chung cho bà T nuôi dưỡng. Ông E đồng ý cấp dưỡng mỗi trẻ mỗi tháng là 2.000.000 đồng, việc thực hiện cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 tây hằng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 8/2024 cho đến khi 02 (hai) con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy, 02 (hai) con chung hiện đang sống chung với mẹ là bà T, dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng bà T không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó, để ổn định tâm sinh lý, đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho 02 (hai) con chung, Hội đồng xét xử tiếp tục giao 02 (hai) cong chung cho mẹ là bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyên của ông E cấp dưỡng mỗi trẻ mỗi tháng là 2.000.000đồng, việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 tây hằng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 8/2024 cho đến khi 02 (hai) con chung lần lượt đủ 18 tuổi là phù hợp nên Hội đồng xét chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Ông E xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông E xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông E phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 Em là được ly hôn với bà Nguyễn Thái T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2019 ngày 13 tháng 3 năm 2019 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn T1 Em và bà Nguyễn Thái T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 10/10/2016 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 01/02/2019.

Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T2 và Nguyễn Huy H cho bà Nguyễn Thái T trực tiếp nuôi dưỡng.

Buộc ông Nguyễn Văn T1 Em phải cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung, mỗi trẻ mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng, cấp dưỡng vào ngày 15 tây hằng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 08/2024 cho đến khi 02 (hai) con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông E chưa thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng ông E phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định của pháp luật tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 và khoản 2 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng con chung.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Văn T1 Em tự nguyện chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: AA/2023/0019503 ngày 21/3/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Ông E đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn T1 Em phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - UBND xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi Cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 917/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 917/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tài E ly hôn Nguyễn Thái T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger