Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————

Bản án số: 917/2025/DS-PT

Ngày: 21/11/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

——————————

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tâm

Bà Đặng Mai Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 11 và ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 592/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 911/2025/QĐPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 898/2025/QĐHPT-PT ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1965. Trú tại: Xóm F, thôn C, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. (nay là xã D, Hà Nội) (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị H - Công ty L2 - Đoàn Luật sư T1. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1946. Trú tại: Xóm F, thôn C, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. (nay là xã D, Hà Nội) (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967 (vợ ông D); (có mặt)
  2. Chị Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 1991 (con gái ông D) (có mặt)
  3. Anh Trần Hải D1, sinh năm 1993(con trai ông D); (có mặt)
  4. Chị Vũ Thị N, sinh năm 1989 (vợ anh D1, con dâu ông D) (Vắng mặt).
  5. Anh Trần Ngọc Ư, sinh năm 1995(con trai ông D). (có mặt)
  6. Cùng trú tại: Xóm F, thôn C, xã T, huyện T Thành phố Hà Nội (nay là xã D, Hà Nội).

    Bà T, chị Á, anh D1, anh Ư đều ủy quyền cho ông Trần Văn D theo Giấy ủy quyền lập ngày 02/12/2024 tại UBND xã T. Chị Vũ Thị N ủy quyền cho ông Trần Văn D theo Giấy ủy quyền lập ngày 03/3/2025 tại UBND xã T. (Ông D có mặt)

  7. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953 (vợ ông L); Có mặt
  8. Anh Nguyễn Đình L1, sinh năm 1979 (con ông L). Có mặt
  9. Cùng trú tại: Xóm F, thôn C, xã T, huyện T Thành phố Hà Nội (nay là xã D, Hà Nội).

    Bà Nguyễn Thị B ủy quyền cho ông Nguyễn Đình L theo Giấy ủy quyền lập ngày 06/12/2024 tại UBND xã T

Do có kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đình L;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn tại Tòa án như sau:

Năm 2008 gia đình ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất là của các cụ để lại cho bố D, tổng diện tích là 288m2, thửa số 208 tờ bản đồ số 04 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội mang tên hộ ông Trần Văn D. Trên diện tích đất, vợ chồng ông D có làm 01 ngôi nhà vào năm 2010, làm một phần trên tổng diện tích đất 288m2, phần còn lại thì gia đình nhà ông D để lưu không. Khi nhà ông Lương X tường bao thì có lấn sang nhà ông chiều dài khoảng 3m chiều rộng khoảng 40cm. Nay đề nghị ông L phải trả cho ông phần đất đã lấn sang nhà ông.

Hiện trên đất có vợ chồng ông D và các con là anh Trần Hải D1, Chị Vũ Thị N, anh Trần Ngọc Ư đang ở trên đất.

* Bị đơn ông Nguyễn Đình L trình bày:

Năm 2001, gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sử dụng đứng tên Nguyễn Đình L. Do gia đình ông xây tường bao giáp đất nhà ông D, xây trên móng tường bao cũ của gia đình ông nên phát sinh tranh chấp với gia đình ông D. Sau các cuộc đo đạc, hòa giải ở xã không đi đến sự thống nhất cuối cùng. Trước khi xây tường bao gia đình ông và gia đình ông D có đo đạc ranh giới, có số mét thể hiện trên văn bản do con trai ông D lập. Hiện tại tường bao do gia đình ông xây dựng nằm trong phạm vi đất sổ đỏ của gia đình ông đã được cấp. Ông L đề nghị đo đạc và xác định mốc giới nếu gia đình ông mà lấn sang thì ông trả lại, nếu gia đình ông D lấn thì ông D phải trả lại gia đình ông. Hiện nay trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông chỉ có hai vợ chồng ông ở, con trai ông đã đi làm không ở cùng cách đây 10 năm.

Quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, ngày 12/12/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, việc đo đạc do Công ty CP T2 có trụ sở tại địa chỉ: Đ, thôn M, xã T, huyện T thực hiện. Công ty Đ đã tiến hành trích đo địa chính thửa đất số 208, tờ bản đồ địa chính số 04 do gia đình ông Trần Văn D đang sử dụng và trích đo địa chính thửa đất số 209, tờ bản đồ số 04 do gia đình ông Nguyễn Đình L đang sử dụng, xác định ranh giới của từng thửa đất theo hiện trạng và ranh giới của từng thửa đất theo bản đồ địa chính năm 1995 - 1997(là cơ sở để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng). Có sơ đồ kèm theo.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội) đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D đối với ông Nguyễn Đình L
    1. Xác định ranh giới giữa thửa đất 208, tờ bản đồ số 4 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 156906, do UBND huyện T cấp ngày 29/8/2008, chủ sử dụng đất là hộ ông Trần Văn D) và thửa đất số 209, tờ bản đồ số 4 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 602762, do UBND huyện T cấp ngày 26/7/2001, chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Đình L) có cùng địa chỉ tại Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội, cụ thể như sau:

      Xác định điểm số 5 có tọa độ: X 2304494.75; Y583640.18(nằm ở phía sau nhà ông D và nhà ông L hiện tại). Xác định điểm số 1 có tọa độ: X 2304509.98; Y 583641.08 (nằm phía trước nhà ông D và nhà ông L hiện tại). Ranh giới giữa hai thửa đất là đường thẳng nối từ điểm số 1 đến điểm số 5. (Trong sơ đồ kèm theo ranh giới giữa hai thửa đất thể hiện bằng nét đứt nối từ điểm số 1 đến điểm số 5)

    2. Buộc gia đình ông L (gồm: ông Nguyễn Đình L, bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Đình L1 phải dỡ bỏ các công trình xây dựng lấn sang đất nhà ông D, trả lại quyền sử dụng 3,59m2 đất cho gia đình ông D.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội) ngày 10.07.2025, ông Nguyễn Đình L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận như sau: bị đơn ông Nguyễn Đình L tự nguyện thanh toán cho nguyên đơn ông Trần Văn D số tiền 40.000.000đ và các bên giữ nguyên mốc giới như hiện trạng đang sử dụng theo bản vẽ của công ty cổ phần Đ và bản đồ Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử: ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa đề nghị tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đình L; Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội) ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đình L đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
  2. Về nội dung vụ án:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn, các đương sự có mặt tại phiên tòa đề nghị tòa án ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của các bên như sau: bị đơn ông Nguyễn Đình L tự nguyện thanh toán cho nguyên đơn ông Trần Văn D số tiền 40.000.000đ và các bên giữ nguyên mốc giới như hiện trạng đang sử dụng theo bản vẽ của công ty cổ phần Đ và bản đồ Hà Nội.

    Xét thấy: việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

    Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

    Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội), ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

  3. Về án phí: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 02 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử:

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 06 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội), cụ thể như sau:

  1. Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên: bị đơn ông Nguyễn Đình L tự nguyện thanh toán cho nguyên đơn ông Trần Văn D số tiền 40.000.000đ và các bên giữ nguyên mốc giới như hiện trạng đang sử dụng theo bản vẽ của công ty cổ phần Đ và bản đồ Hà Nội.
  2. Về án phí: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Trần Văn D 1.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0021045 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Oai (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Hà Nội).
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 917/2025/DS-PT ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 917/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger