|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 917/2024/DS-ST Ngày: 25/9/2024 V/v “Tranh chấp đòi nhà” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 633/2019/TLST - DS ngày 24 tháng 9 năm 2019 về “Tranh chấp đòi nhà” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 604/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 453/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phùng Thị V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM;
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phùng Thị T, sinh năm: 1974 (có mặt)
Địa chỉ: D Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Văn T1, sinh năm 1994, luật sư đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. (có đơn xin vắng mặt) và bà Nguyễn Đỗ Thùy T2, sinh năm 1992, Luật sư đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Công ty L, Tầng H, Tòa nhà CTM, số B đường C, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn:
- Ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H.
Địa chỉ: G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C, bà H: Ông Đặng Văn T3 (có mặt)
Địa chỉ: H đường T, Phường T, quận T, TP HCM.
- Ông Bùi Mạnh H1: sinh năm: 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Anh T4, sinh năm: 2004 (có đơn xin vắng mặt)
- Trẻ Bùi Phùng Phương A, sinh năm: 2008.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Bùi Phùng Phương A: Ông Bùi Mạnh H1 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 76A/1C ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, TP HCM
- Ông Lê Văn T5 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: G đường L, ấp T, xã T, huyện H, TP H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 9 năm 2019, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền nguyên đơn bà Phùng Thị T trình bày:
Bà V và chồng bà là ông Bùi Mạnh H1 là chủ sở hữu hợp pháp nhà và đất tại địa chỉ G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM.
Ngày 11/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã giải quyết cho bà V và ông H1 ly hôn, sau ly hôn ngày 22/4/2019 ông Bùi Mạnh H1 ký hợp đồng tặng cho bà Phùng Thị V toàn bộ phần nhà đất tại địa chỉ: G / 1C ấp T, xã T, huyện H, TP HCM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00471 do UBND huyện H cấp ngày 15/08/2011 (hợp đồng tặng cho số công chứng 004816, quyển số 04/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 22/4/2019 tại Văn phòng C1), nhưng ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H đã chiếm giữ trái phép phần nhà đất này. Bà V đã nhiều lần đòi nhà nhưng ông C, bà H không trả, cố tình chiếm giữ và sử dụng trái phép nhà của bà V.
Vì vậy, bà V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xem xét buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 giao trả lại nhà số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh lại cho bà V vì bà vẫn là người sở hữu hợp pháp.
Tại bản tự khai, đơn yêu cầu phản tố và các biên bản hòa giải, biên bản làm việc đại diện ủy quyền bị đơn ông Đặng Văn T3 trình bày:
Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H sinh sống tại căn nhà số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010. Đây là nhà của con trai ông C, bà H là ông Bùi Mạnh H1 Thời điểm ông Bùi Mạnh H1 và bà Phùng Thị V mua căn nhà này, ông C có bỏ ra số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng để ông H1, bà V mua nhà. Ngày 25/8/2011, ông C có mua của ông Lê Văn T5 01 miếng đất diện tích 13,5 m² với giá 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng nằm tiếp giáp phía sau nhà của ông T5 (địa chỉ: G đường L, ấp T, xã T) và nhà số G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM. Tại thời điểm ông C mua đất này, đã có sẵn lối đi hiện hữu đi qua phần đất phía sau nhà ông T5 để ra đường công cộng, tuy nhiên nay ông T5 đã cho xây bít lối đi này đây là lối đi duy nhất để ra đường công cộng. Năm 2019, ông H1 và bà V ly hôn, ông C, bà H không hay biết. Khi ly hôn, ông H1 và bà V đã tự ý thỏa thuận chia tài sản là căn nhà trên (76A/1C ấp T, xã T, huyện H, TP HCM ) mà không thông báo cho ông C, bà H biết. Việc làm này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của ông C, bà H. Vì vậy ông C, bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xem xét giải quyết những vấn đề sau: Buộc bà Phùng Thị V và ông Bùi Mạnh H1 liên đới trả lại cho ông C số tiền 300.000.000 đồng (đây là số tiền tạm tính vì đã góp mua nhà từ năm 2010); Buộc ông Lê Văn T6 và bà Phùng Thị V phải có trách nhiệm liên đới mở lối đi hợp lý từ phần đất của ông C đã mua ra đường công cộng để ông C, bà H có lối đi vào nhà mình và yêu cầu tòa án nhân dân huyện Hóc Môn công nhận Hợp đồng mua bán đất được ký ngày 25/8/2011 giữa ông Bùi Văn C với ông Lê Văn T5. Công nhận diện tích đất 13,5 m² ông Bùi Văn C mua của ông Lê văn T5 và toàn bộ công trình xây dựng trên diện tích 13,5 m² là của ông Bùi Văn C.
Tại đơn xin vắng mặt và biên bản hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Văn T5 trình bày:
Trước đây ông có bán cho ông C và ông H1 một miếng đất diện tích 13,5m² với giá 48.000.000 đồng nằm tiếp giáp phía sau nhà của ông (địa chỉ G đường L, ấp T, xã T, huyện H và nhà số G ấp T, xã T, huyện H). Việc tranh chấp đòi nhà giữa nguyên đơn bà Phùng Thị V với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H thì ông không có ý kiến và yêu cầu gì, ông xin phép được vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử vụ án.
Tại đơn xin vắng mặt, biên bản hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bùi Văn T7 trình bày:
Em là con ruột của bà Phùng Thị V và ông Bùi Mạnh H1, hiện em và em gái Bùi Phùng Phương A đang ở trên phần nhà đất tại địa chỉ G ấp T, xã T, huyện H, em không có ý kiến và yêu cầu gì về việc tranh chấp đòi nhà giữa bà Phùng Thị V và ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, em có yêu cầu được ở tại căn nhà này để ổn định việc học tập.
Tại biên bản hòa giải đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bùi Phùng Phương A, ông Bùi Mạnh H1 trình bày:
Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì về tranh chấp đòi nhà giữa bà Phùng Thị V với ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, với tư cách đại diện hợp pháp trẻ Phương A, ông mong con được ở lại căn nhà này để ổn định việc học tập.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Phùng Thị V trình bày: Bà Phùng Thị V là chủ sở hữu hợp pháp đối với căn nhà và đất tại địa chỉ G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà di dời đi nơi khác trả lại nhà đất số nhà đất số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Phùng Thị V.
Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Nguyên đơn không đồng ý vì yêu cầu của bị đơn là không có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện ủy quyền bị đơn trình bày: Đối với yêu cầu buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà di dời đi nơi khác trả lại nhà đất số nhà đất số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Phùng Thị V bị đơn không đồng ý.
Phía bị đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu phản tố: Buộc bà Phùng Thị V và ông Bùi Mạnh H1 liên đới trả lại cho ông C số tiền 300.000.000 đồng (đây là số tiền tạm tính vì đã góp mua nhà từ năm 2010); Buộc ông Lê Văn T5 và bà Phùng Thị V phải có trách nhiệm liên đới mở lối đi hợp lý từ phần đất của ông C đã mua ra đường công cộng để ông C, bà H có lối đi vào nhà mình và yêu cầu tòa án nhân dân huyện Hóc Môn công nhận Hợp đồng mua bán đất được ký ngày 25/8/2011 giữa ông Bùi Văn C với ông Lê Văn T5. Công nhận diện tích đất 13,5 m² ông Bùi Văn C mua của ông Lê văn T5 và toàn bộ công trình xây dựng trên diện tích 13,5 m² là của ông Bùi Văn C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu: Việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, thư ký và thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu phản tố yêu cầu ông H1, bà V liên đới trả 300.000.000 đồng tiền mà ông C góp mua nhà năm 2010, từ khi nộp đơn yêu cầu phản tố cho đến tại phiên tòa phía bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bị xâm phạm nên yêu cầu này không có cơ sở chấp nhận, đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng mua bán đất ký ngày 25/8/2011 giữa ông C, ông T5, yêu cầu công nhận phần diện tích 13,5m², yêu cầu ông T5 và bà V có trách nhiệm mở lối đi cho ông C, do Hợp đồng ký giữa ông C với ông T5 không liên quan đến bà V, ông H1 nên không được xem là yêu cầu phản tố theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự, dành quyền khởi kiện cho bị đơn về yêu cầu này trong một vụ án khác.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng các bên không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Về phía bị đơn ông Bùi Mạnh H1, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vẫn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phùng Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông C, bà V, ông H1 di dời đi nơi khác trả nhà lại cho bà. Do đó, xác định đây là “Tranh chấp đòi nhà”. Nhà tranh chấp tọa lạc tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Bùi Mạnh H1 vắng mặt không lý do. Ông Lê Văn T5, em Bùi Anh T4, có đơn xin xét xử vắng mặt không tham gia phiên tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định Điều 227, Điều 228, Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung tranh chấp:
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà di dời đi nơi khác trả lại căn nhà số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Phùng Thị V. Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguồn gốc căn nhà số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 81,3m² thuộc thửa 469, tờ bản đồ số 26 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/8/2011 cho ông Bùi Mạnh H1, số vào sổ cấp GCN CH 00471, theo như tài liệu có trong hồ sơ thì ông H1 và bà V là vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định và đã ly hôn ngày 11/6/2019 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 618/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/20219 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn. Trước khi ly hôn ngày 22/4/2019 tại Văn phòng C1 thì ông Bùi Mạnh H1 đã ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở số 004816 cho bà Phùng Thị V phần nhà đất diện tích 81,3m² thuộc thửa 469, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/5/2019 bà V được cập nhật biến động sang tên mình. Do đó, bà Phùng Thị V được toàn quyền định đoạt nhà đất trên kể từ ngày 23/5/2019, bị đơn ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 không phải là chủ sở hữu đối với căn nhà trên nên việc bị đơn ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 sinh sống trên căn nhà trên là đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nên căn cứ Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự 2015. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà đang sinh sống trên căn nhà này di dời đi nơi khác, trả lại toàn bộ nhà đất số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Phùng Thị V.
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H:
- Buộc bà Phùng Thị V và ông Bùi Mạnh H1 liên đới trả lại cho ông C số tiền 300.000.000 đồng (đây là số tiền tạm tính vì đã góp mua nhà từ năm 2010). Hội đồng xét xử xét thấy khi nộp đơn yêu cầu phản tố, trong qua trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Bùi Văn C không nộp tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc ông C có bỏ tiền vào để góp mua đất và xây dựng căn nhà G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ Khoản 1 Điều 91 Nghĩa vụ chứng minh của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp,” nên yêu cầu này của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
- Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn công nhận Hợp đồng mua bán đất được ký ngày 25/8/2011 giữa ông Bùi Văn C với ông Lê Văn T5. Công nhận diện tích đất 13,5 m² ông Bùi Văn C mua của ông Lê văn T5 và toàn bộ công trình xây dựng trên diện tích 13,5 m² là của ông Bùi Văn C và buộc ông Lê Văn T6 và bà Phùng Thị V phải có trách nhiệm liên đới mở lối đi hợp lý từ phần đất của ông C đã mua ra đường công cộng để ông C, bà H có lối đi vào nhà mình. Hội đồng xét xử xét thấy đối với tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể ông Bùi Văn C yêu cầu công nhận phần đất 13,5m² (nằm tiếp giáp phía sau nhà của ông T5 (địa chỉ: G đường L, ấp T, xã T) và nhà số G ấp T, xã T, huyện H, TP HCM) mà chưa hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T, bên cạnh đó việc tranh chấp này không liên quan đến yêu cầu đòi nhà của nguyên đơn, đây là quan hệ tranh chấp khác nên đình chỉ yêu cầu của ông Bùi Văn C, ông được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi có tranh chấp.
- Đối với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bùi Văn T7: Trong vụ kiện của em không có ý kiến và yêu cầu gì về việc tranh chấp đòi nhà giữa bà Phùng Thị V và ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, em có yêu cầu được ở tại căn nhà này để ổn định việc học tập. Tại phiên tòa đại diện ủy quyền nguyên đơn không đồng ý để bất cứ ai sinh sống trên căn nhà này nên ý kiến này của em Bùi Văn T7 không có cơ sở chấp nhận.
- Đối với ý kiến đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Mạnh H1: Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì về tranh chấp đòi nhà giữa bà Phùng Thị V với ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, với tư cách đại diện hợp pháp trẻ Phương A, ông mong con được ở lại căn nhà này để ổn định việc học tập. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa đại diện ủy quyền nguyên đơn không đồng ý để bất cứ ai sinh sống trên căn nhà này nên ý kiến này không có cơ sở chấp nhận.
- Đối với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Văn T5: Việc tranh chấp đòi nhà giữa nguyên đơn bà Phùng Thị V với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H thì ông không có ý kiến và yêu cầu gì. Hội đồng xét xử xét thấy ông T5 không có ý yêu cầu gì nên không xem xét chỉ ghi nhận ý kiến của ông T5.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà di dời đi nơi khác trả lại căn nhà số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Phùng Thị V. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật và phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí thẩm định giá tài sản, chi phí đo vẽ nguyên đơn tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bị đơn ông Bùi Văn C chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu không được chấp nhận là 15.000.000 đồng. Bị đơn là người cao tuổi (94 tuổi) và có đơn xin miễn giảm án phí thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, điểm b khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 163, Điều 164 và Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014;
Căn cứ Điều 167 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phùng Thị V về việc “Tranh chấp đòi nhà” với ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1.
- Buộc ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 và những người khác đang sinh sống trên căn nhà di dời đi nơi khác trả lại nhà đất số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 81,3m² thuộc thửa 469, tờ bản đồ số 26 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/8/2011 cho ông Bùi Mạnh H1, số vào sổ cấp GCN CH 00471, cập nhật biến động sang tên bà Phùng Thị V ngày 23/5/2019.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn C về yêu cầu ông Bùi Mạnh H1 và bà Phùng Thị V trả 300.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của bị đơn Bùi Văn C yêu công nhận Hợp đồng mua bán đất được ký ngày 25/8/2011 giữa ông Bùi Văn C với ông Lê Văn T5. Yêu cầu công nhận diện tích đất 13,5 m² ông Bùi Văn C mua của ông Lê Văn T5 và toàn bộ công trình xây dựng trên diện tích 13,5 m² là của ông Bùi Văn C và buộc ông Lê Văn T6 và bà Phùng Thị V phải có trách nhiệm liên đới mở lối đi hợp lý từ phần đất của ông C đã mua ra đường công cộng để ông C, bà H có lối đi vào nhà mình. Ông Bùi Văn C có quyền khởi kiện các yêu cầu này bằng một vụ án khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị H, ông Bùi Mạnh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bị đơn ông Bùi Văn C chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu không được chấp nhận là 15.000.000 đồng. Bị đơn ông Bùi Văn C là người cao tuổi (94 tuổi) và có đơn xin miễn giảm án phí thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
H2 lại cho nguyên đơn Phùng Thị V số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0004997 ngày 24/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Bùi Mạnh H1, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Anh Phong |
Bản án số 917/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi nhà
- Số bản án: 917/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Thị V yêu cầu Bùi Văn C trả nhà
