|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 917/2024/DS-PT
Ngày: 24 - 10 - 2024
V/v “Tranh chấp Đòi tài sản là Quyền
sử dụng đất”; “Thừa kế tài sản”; “Hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh
Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp Đòi tài sản là Quyền sử dụng đất”; “Thừa kế tài sản”; “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6426/2024/QĐPT ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Dương Thị T, sinh năm 1945;
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967;
- Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1973;
- Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1975;
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970. Địa chỉ: A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn: Ông Lê Phước Ý, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số D B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1 (đã chết ngày 15-12-2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà N1:
- Ông Trần Ngọc T3, sinh năm 1977. Địa chỉ: B (số M đường N), ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Trần Thị Bạch T4, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số F, đường C tháng tám, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Trần Anh T5, sinh năm 1981. Địa chỉ: B (mới là 701 đường N) ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Trần Thị Cẩm T6, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bạch T7, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà B, hẽm V, phường V, phố V, huyện C, Đài Loan.
- Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn L và ông Nguyễn Thành M: Ông Lê Phước Ý, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số D B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Trần Anh T5, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1981. Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Nguyễn Bửu T8, sinh năm 1951. Địa chỉ: Số H C, PerisS, C, Hoa Kỳ.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bửu T8: Ông Hồ Quốc B, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh
+ Đại diện theo pháp luật ông Lê Hồng V – Phó Chủ tịch.
+ Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã H: Ông Phạm Thanh P – Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường.
- Người tham gia tố tụng khác: Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh P – Trưởng Phòng T.
2
- Người làm chứng:
- Ông Phạm Văn B1 - Trưởng ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
- Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
- Ông Huỳnh Công Ả, sinh năm 1953. Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
Do có kháng cáo của các đồng nguyên đơn, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
(Tại phiên tòa ông Lê Phước Ý có mặt; bà Trần Thị Bạch T4, ông Hồ Quốc B, ông Lê Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt; các đương sự khác vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của các đồng nguyên đơn Dương Thị T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Tấn T2, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thị Châu Nguyễn Văn S và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Dương Thị T có ba mẹ chồng là cụ Nguyễn Văn K (sinh năm 1917, chết 1986), cụ Võ Thị T9 (sinh năm 1922, chết 1994). Quá trình chung sống, cụ K và cụ T9 có một người con là Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1942, chết 2005). Đến năm 1956, cụ K ly hôn với cụ T9 (không có quyết định ly hôn). Sau đó, cụ K lấy vợ sau là cụ Nguyễn Thị B2, không có đăng ký kết hôn, cụ B2 chết vào năm 2007. Quá trình chung sống, cụ K và cụ B2 có 02 người con là Nguyễn Bửu T8, sinh năm 1951; Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957. Nên ông Đ là anh cùng cha khác mẹ với ông T8 và bà N1.
Năm 1965, ông Đ cưới bà T (không đăng ký kết hôn), chung sống có 8 người con gồm: ông Nguyễn Tấn T2, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Thành M, bà Nguyễn Thị Bạch T7.
Cụ K chung sống với cụ T9 từ năm 1941 tại tỉnh Trà Vinh, đến năm 1945, gia đình chuyển về Tây Ninh sinh sống. Cụ K và mẹ ruột là cụ T10 được Đ1 Cao đài cấp 01 phần đất có diện tích ngang 31m x dài 50m, tọa lạc tại B ấp T, xã T, huyện H (nay là thị xã H) tỉnh Tây Ninh, việc cấp đất không nhớ năm nào và không có giấy tờ. Đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do thời điểm các cụ còn sống thì phần đất trên bị quy hoạch cụm C nên Nhà nước không có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Đ sống trên phần đất từ nhỏ. Năm 1989, vợ chồng ông bà cất nhà sinh sống cùng các con. Bà
3
Nguyễn Thị N1 lấy chồng nhưng ly hôn, đến năm 1990, bà N1 về ở trên đất và sử dụng đất cho đến nay.
Diện tích đất ngang 10 m x dài 50m nằm trong diện tích đất ngang 31 m x dài 50m nêu trên, vào ngày 09-10-1994 ông Đ đã đăng ký quyền sử dụng đất thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại T, xã T, H, Tây Ninh, được cụ Nguyễn Thị B2 cho, cụ B2 cho ông Đ khi cụ K đã chết rồi, tuy nhiên hồ sơ ghi nhầm tên là Nguyễn Văn Đ2, do đo đất thủ công và trừ lộ giới đường nên khai diện tích sử dụng là 268m². Đến năm 2005, ông Đ chết nên bà T và các con không còn ở trên đất, bà N1 đã tháo dỡ nhà của gia đình bà để chiếm đất, các bên xảy ra tranh chấp. Năm 2017 bà T có đơn yêu cầu xã T nhưng không thành.
Cụ K, cụ T9, cụ B2, ông Đ trước khi chết không có để lại di chúc. Nay bà T và các con khởi kiện yêu cầu bà N1:
- Trả lại phần đất ngang 10m x dài 50m thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp T, xã T, H, Tây Ninh mà chồng là ông Nguyễn Văn Đ chết để lại, qua đo đạc thực tế có diện tích 305,6m² (thửa mới 832, thửa cũ 302) và một phần thửa 833 (thửa cũ là 235) trả lại và di dời tài sản khỏi phần đất có tứ cận: Bắc giáp thửa (347, 136) dài 30,94m; Nam giáp thửa 833 dài 30,30m; Đông giáp thửa 138 dài 10m; Tây giáp đường N dài 10m. Cụ thể, buộc bà N1 và những người đang ở trên đất di dời Nhà tạm (32,4m²), Nhà cấp 4 (31,5m²), Wc (2,6m²), Chuồng gà (9m²) thuộc thửa 832 và một phần Mái che thuộc thửa 833.
- Chia di sản thừa kế phần đất còn lại ngang 21m x dài 50m theo quy định của pháp luật, qua đo đạc thực tế có diện tích 604,7m² (thuộc thửa 833), có tứ cận: Bắc giáp một phần thửa 833 dài 30,30m; Nam giáp thửa 135, 551 dài 29,05m; Đông giáp thửa 138 dài 19,56m; Tây giáp đường N dài 21,09m; Yêu cầu chia thành 03 phần bằng nhau cho ông Đ, bà N1 và ông T8 mỗi người một phần, yêu cầu được nhận đất; đối với căn nhà thờ (Nhà tạm diện tích 62,6m²) đây cũng là di sản của Cụ K, cụ T9 và cụ B2, yêu cầu chia ba, yêu cầu được nhận tiền.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trình bày:
Cha ruột của bị đơn tên Nguyễn Văn K (sinh năm 1917, chết năm 1986), mẹ ruột của bị đơn tên Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928, chết năm 2007), có 3 con: Nguyễn Bửu T8, sinh năm 1951; Nguyễn Thị N1 (Nguyễn Thị Huỳnh N1), sinh năm 1957 và Nguyễn Văn P1 (chết lúc nhỏ, không có vợ con). Quá trình chung sống vào năm 1950, cụ K và cụ B2 được Đ1 Cao đài cấp phần đất ngang 31m, dài 50m, giấy tờ thất lạc. Cụ K và cụ B2 cất nhà ở trên đất cho đến khi qua đời.
Về quá trình sử dụng đất: Cụ K và cụ B2 trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ trước năm 1975 đến năm 1986 cụ K chết, cụ B2 tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến khi Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đại trà 763 m² vào ngày 07-11-1995
4
nhưng không giao giấy chứng nhận. Ông Nguyễn Văn Đ2 (không rõ là ai) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 168 m² nằm trong diện tích đất của cụ B2.
Bà T cho rằng ông Nguyễn Văn Đ2 (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 168 m² ) chính là ông Nguyễn Văn Đ, là con trai riêng của cụ K. Tuy nhiên, nội dung kê khai đăng ký của ông Nguyễn Văn Đ2 thể hiện nguồn gốc đất mua của ông Phạm Văn T11 vào năm 1991 trong khi toàn bộ diện tích đất (31 m x 29,9m) do cụ B2 quản lý sử dụng từ khi tạo lập cho đến nay. Năm 2018, được sự đồng ý của anh trai là Nguyễn Bửu T8, bà N1 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và phát hiện phần đất của cha mẹ đã được cấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, một là cấp cho ông Nguyễn Văn Đ2 diện tích 168 m², hai là cấp cho cụ Nguyễn Thị B2 diện tích 763 m². Bà N1 và các con hoàn toàn không biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Văn Đ không phải là con riêng của cụ Nguyễn Văn K, không có giấy tờ, chứng cứ pháp lý thể hiện ông Đ là con của cụ K.
Trước đây, bà N1 có ký hợp đồng ủy quyền với ông Nguyễn Phi L1 vào ngày 25-9-2019, vào ngày 24-10-2022 bà đã hủy bỏ toàn bộ việc ủy quyền với ông L1 và xác định lời trình bày của ông L1 và các chứng cứ ông L1 cung cấp cho Tòa liên quan đến vụ án này là không có giá trị pháp lý với tư cách là đại diện theo ủy quyền của bà.
Cụ K chết năm 1986, cụ B2 chết 2007, không để lại di chúc nên bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.
Ngày 27-11-2020, bà Nguyễn Thị N1 có đơn phản tố: yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 168 m², thửa số 302, tờ bản đồ số 04 số vào sổ 00520 QSDĐ/D9, do UBND huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ2 vào ngày 07-11-1995; Bởi các lý do sau:
- + Ông Đ không có đất tại vị trí này và ông Đ không có quan hệ huyết thống với bà, việc cho ông Nguyễn Văn Đ đất là không có căn cứ.
- + Nguyên đơn khai là đất được tặng cho, nhưng theo đơn đăng ký ngày 09-10-1994 là mua của ông Phạm Văn T11 năm 1991.
- + Do vậy bên bị đơn xác định ông Đ không được cha mẹ cho đất tại vị trí thửa 302 nên không đồng ý trả lại đất.
- + Không đồng ý yêu cầu chia thừa kế, do ông Đ không có giấy tờ pháp lý gì chứng minh ông Đ là con của cụ K và cụ T9.
- + Nguyên đơn cung cấp văn bản ghi ngày 01-6-2009, người ký tên là Nguyễn Bửu T8, chữ ký trong đơn này không giống với chữ ký của ông T8 đã ký hợp thức hóa lãnh sự ngày 24-3-2020. Yêu cầu phía nguyên đơn cung cấp bản gốc để xác định đây có phải chữ ký của ông T8 hay không.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn Trần Ngọc T3, Trần
5
Thị Bạch T4, Trần Anh T5, Trần Thị Cẩm T6 trình bày: Mẹ tên là Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1957, chết 15-12-2022), cha tên Trần Ngọc H đã ly hôn vào ngày 26-4-1990 tại Quyết định ly hôn số 07 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Giữ yêu cầu và lời trình bày của mẹ (Nguyễn Thị N1), không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Ông Nguyễn Bửu T8:
Về Việt nam có văn bản trình bày ý kiến vào ngày 06-10-2022 và tòa án tiến hành lấy lời khai vào ngày 13-10-2022 như sau: Cha mẹ, anh chị em như lời trình bày của bà Nguyễn Thị N1 là đúng. Quá trình chung sống cha, mẹ tạo dựng được phần đất ngang 31m x dài 29,9m cha, mẹ cùng các con trực tiếp quản lý, sử dụng đất cho đến khi cha chết vào năm 1986, mẹ chết vào năm 2007, trên đất có căn nhà của cha mẹ hiện em và các cháu đang thờ cúng cha mẹ. Ông bác bỏ hoàn toàn khởi kiện của bên nguyên đơn vì cha mẹ không có con riêng. Ông có làm văn bản từ chối nhận di sản thừa kế vào ngày 27-01-2018 mục đích là để cho em gái tên Nguyễn Thị N1 được làm thủ tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên, thời điểm công chứng là trước khi bên nguyên đơn khởi kiện, khi bà N1 làm thủ tục thì bị phía nguyên đơn ngăn cản chuyển đến cơ quan pháp luật giải quyết đến nay chưa xong, ông không từ chối nhận di sản trong vụ án này. Nếu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật thì phần của ông sẽ giao lại cho bà Nguyễn Thị N1 toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt.
Quá trình giải quyết vụ án: Ngày 24-3-2020, ông đã ủy quyền cho ông Nguyễn Phi L1, đến ngày 30-9-2022 ông đã hủy bỏ việc ủy quyền cho ông L1; Ngày 06-10-2022, ông ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N1; sau đó, hủy bỏ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Năng . Ngày 02-11-2022, ông T8 thực hiện thủ tục ủy quyền cho ông Hồ Quốc B, sinh năm 1973, địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2/. Ông Trần Anh T5, bà Nguyễn Thị G:
là con trai và con dâu của bà Nguyễn Thị N1 đang ở trên đất tranh chấp cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà N1 trình bày: Thống nhất và giữ nguyên toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của mẹ là bà Nguyễn Thị Năng . Trước đây, ông bà có ủy quyền cho ông Nguyễn Phi L1 tham gia tố tụng vào ngày 25-9-2019 nhưng đến ngày 24-10-2022, ông bà hủy bỏ ủy quyền đối với ông Nguyễn Phi L1.
3/. Bà Nguyễn Thị Bạch T7:
Hiện đang sinh sống có địa chỉ tại Đài Loan. Tòa án đã thực hiện thủ tục Ủy thác tư pháp các lần như sau:
Hồ sơ ủy thác số 01/TTTPDS- TA 53 ngày 20-3-2020. Bộ Tư pháp có văn bản số 916/BTP-PLQT ngày 20-04-2021 trả lời về kết quả ủy thác tư pháp: Cơ quan thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 09-3-2021 bằng phương thức: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự;
6
Hồ sơ ủy thác số 55/TTTPDS-TA 53 ngày 29-3-2022, theo văn bản số 2486/BTP-PLQT ngày 21-9-2022 của Bộ Tư pháp trả lời về kết quả ủy thác như sau: Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 04-8-2022 bằng phương thức: chuyển cho người sống chung cùng đương sự.
Nhưng không nhận được có ý kiến của bà Nguyễn Thị Bạch T7 về vụ án.
4/. Ông Nguyễn Tấn L và ông Nguyễn Thành M - Ủy quyền cho ông Lê Phước Ý
trình bày như sau: Thống nhất toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của các đồng nguyên đơn.
5/. Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh:
Tại văn bản số 586/UBND ngày 23-5-2022 (BL 334), UBND thị xã H có ý kiến như sau: Ngày 09-10-1994 ông Nguyễn Văn Đ2 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với thửa 302, tờ bản đồ số 4 diện tích 168 m² loại đất thổ cư tọa lạc tại ấp T, xã T, Hòa Thành T. Nguồn gốc mua của Phạm Văn T11 năm 1991. Hội đồng đăng ký ruộng đất xã T tổ chức xét duyệt, công khai hồ sơ cấp giấy, lập tờ trình UBND huyện phê duyệt và được Phòng địa chính huyện kiểm tra, rà soát, đối chiếu với sổ địa chính, trình UBND huyện H (nay là thị xã H) ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ2. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ2 tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 4 là đảm bảo theo trình tự, thủ tục quy định. Do đó, đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn Đ2 của bà Nguyễn Thị N1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng khác:
Đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H, tỉnh Tây Ninh trình bày vào ngày 20-10-2021 như sau: Hiện tại Phòng Tài nguyên và Môi trường đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số cấp giấy 00520. QSDĐ/D9 của ông Nguyễn Văn Đ2 được UBND huyện H cấp ngày 07-11-1995 (bản chính); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B2, số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00479. QSDĐ/D9 cấp ngày 07-11-1995 (bản chính) thì năm 2019 Phòng T đã chuyển giao bản chính cho Phòng đăng ký đất đai thị xã H để xem xét cấp giấy cho bà Nguyễn Thị Năng .
Lý do giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cấp đại trà, UBND xã có thông báo cho người dân đến nhận, nhưng giấy nào người dân chưa đến nhận thì Ủy ban xã giao lại cho Phòng T quản lý. Đất được cấp giấy không nằm trong khu quy hoạch cụm C.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Bà Dương Thị
7
T; bà Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Tấn T2; ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N1 về tranh chấp “Đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với diện tích 305,6 m² tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Thửa 302 tờ bản đồ số 4 cũ, mới là thửa 832 tờ bản đồ số 30 diện tích và một phần của thửa mới 833, tờ bản đồ số 30.
2/ Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế tài sản đối với diện tích 604,7 m² liền kề diện tích 305,6m² tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Thửa đất mới là số 833, tờ bản đồ số 30.
3/ Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị N1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N1 (Nguyễn Thị Huỳnh N1): Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00520 QSDĐ/D9, do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Nguyễn Văn Đ2 vào ngày 07-11-1995 diện tích 168 m². Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã H và cơ quan có thẩm quyền đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã H thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 00479 QSDĐ/D9 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp cho bà Nguyễn Thị B2 đứng tên vào ngày 07-11-1995, thửa số 235, tờ bản đồ số 4, diện tích 763 m², mục đích sử dụng TC 400m², thời hạn sử dụng lâu dài.
Ông Nguyễn Bửu T8 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N1 (Nguyễn Thị Huỳnh N1) gồm: Trần Ngọc T3, Trần Thị Bạch T4, Trần Anh T5, Trần Thị Cẩm T6 được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích 910,3 m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Thửa 832, thửa 833, tờ bản đồ số 30. (theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất lập ngày 26-3-2021)
Ngoài ra, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh còn quyết định về án phí và chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 28/4/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 17/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Ngày 25/4/2023, các nguyên đơn bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S kháng cáo bản án bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn, đồng thời là đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Lê Phước Ý trình bày:
Ông kháng cáo và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giám định AND giữa các con của ông Đ, yêu cầu trả phần đất theo ranh bản đồ địa chính thửa 832, tờ bản
8
đồ số 30, diện tích 194m²; chia thừa kế tài sản của cụ K1 làm 4 phần tương ứng mỗi phần 89.53m²; chia di sản thừa kế là căn nhà thờ diện tích 62.6m²/4 = 15.65m². Toàn bộ diện tích ông không còn yêu cầu nhận đất mà đổi sang thành nhận tiền với số tiền yêu cầu là 3.388.669.000₫ (Ba tỷ ba trăm tám mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các nguyên đơn bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S làm trong hạn luật định và hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung:
Giữ nguyên quan điểm kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh được ban hành đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của các nguyên đơn bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đủ chứng cứ pháp lý để xác định ông Nguyễn Văn Đ là con của cụ Nguyễn Văn K nên không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế tài sản đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn K của các nguyên đơn.
Xét thấy, cụ Nguyễn Văn K (sinh năm 1917, chết năm 1986), có vợ là cụ Nguyễn Thị B2 (chết năm 2007) có 3 con chung: Ông Nguyễn Bửu T8, sinh năm 1951; bà Nguyễn Thị N1 (Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm 1957 chết năm 2022); ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1965 (chết lúc nhỏ, không có vợ con), trên cơ sở: Giấy khai sinh (BL170); Sổ gia đình (BL171 – 175) do cụ Nguyễn Văn K đứng tên được xã T, Quận P, tỉnh Tây Ninh cấp vào ngày 19-7-1966, có căn cứ xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ K, cụ B2 là ông T8, bà N1.
Các nguyên đơn bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S khởi kiện cho rằng
9
ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1942, chết năm 2005, chồng bà T và cha của bà T1, ông T2, ông N, bà C, ông S) là con riêng của cụ K với vợ trước là cụ Võ Thị T9 (quê Trà Vinh, sinh năm 1922, chết năm 1994). Khi đám cưới của bà Dương Thị T với ông Nguyễn Văn Đ thì cụ Nguyễn Văn K đứng ra làm đám cưới.
Theo hồ sơ kê khai chứng minh nhân dân ngày 20-9-1994 của ông Nguyễn Văn Đ thể hiện cha tên Nguyễn Văn K, là mẹ tên Võ Thị T12. Như vậy, họ tên người mẹ trong giấy trích lục khai tử ngày 20-10-2017 (BL22) tên Võ Thị T9 khác với tên người mẹ trong hồ sơ kê khai chứng minh nhân dân của ông Đ và không có tài liệu chứng cứ nào xác định cụ Võ Thị T12 và cụ Võ thị T9 là một người. Tuy nhiên, vấn đề cần xác định và làm rõ trong vụ án này là cha ông Đáng có phải là cụ Nguyễn Văn K hay không. Tên cha trong Tờ khai chứng minh nhân dân của ông Đ thể hiện cha ông Đáng là cụ Nguyễn Văn K.
Các nguyên đơn cung cấp văn bản ngày 01-6-2009, nội dung thể hiện ông Đ là anh của ông Nguyễn Bửu T8, phía bị đơn và ông T8 phủ nhận văn bản trên, xác định không phải chữ ký của ông T8, không có hợp pháp hóa lãnh sự và là bản phô tô không có chứng thực.
Những người làm chứng sống lân cận diện tích đất đang tranh chấp thể hiện như sau:
Ông Huỳnh Văn C1 (em họ của bà Nguyễn Thị B2), sinh năm 1952 trình bày: ông Nguyễn Văn Đ là con cụ K; ông Huỳnh Công Ả sinh năm 1953 (trưởng ấp T từ năm 1978 - 1980) trình bày ông Đ là con cụ K; bà Nguyễn Thị X (ở đối diện phần đất tranh chấp) sinh năm 1968 và ông Phạm Văn B1 trình bày: Ông Đ là con cụ K, có về sống trên đất được một khoảng thời gian, trước khi về sinh sống trên đất thì ông Đ, bà T và các con sinh sống mua bán dưới ghe (gần đất đang tranh chấp), sau đó chuyển đi nơi khác sống cách đó khoản 500 - 600 mét. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng tại Bút lục 406 ông Chính xác N2 cho bà N1 vào ngày 26-6-2022 nội dung Đơn xác nhận “không có ai sống trên đất, chỉ có gia đình bà N1 sinh sống trên phần đất tranh chấp”. Như vậy, lời trình bày của ông Huỳnh Văn C1 có mâu thuẫn nên xem xét. Tuy nhiên, lời khai của ông C1 luôn khẳng định việc ông Đ là con của cụ C2.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại Biên bản hòa giải ngày 24/02/2022, nguyên đơn có yêu cầu trong trường hợp bị đơn không thừa nhận ông Đ là con của cụ K thì tiến hành giám định AND để xác định huyết thống. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện thông báo đương sự nộp tạm ứng chi phí giám định và ra Quyết định trưng cầu giám định AND để xác định mối quan hệ huyết thống giữa ông Đ với cụ K là không đảm bảo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không đảm bảo giải quyết toàn diện, triệt để vụ án.
10
Về diện tích 305,6 m² đất thửa 302: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00520 cấp cho ông Nguyễn Văn Đ2 diện tích 168 m², phía nguyên đơn căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này để tranh chấp với bị đơn, thấy rằng: Theo hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Đ2 thể hiện chỉ có 1 đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất (BL 254), tuy nhiên tại đơn này thể hiện nguồn gốc đất “Mua của Phạm Văn T11 năm 1991”, các mục khác có sửa chữa, gạch bỏ tại cột diện tích, số thửa. Phía nguyên đơn trình bày (BL330, 331), sau khi được cho đất, ông Đ bà T và các con làm nhà (chòi tranh, vách đất) ở trên đất, phù hợp với lời trình bày của đồng thừa kế của bà N1 trình bày, gia đình bà T có làm chòi tranh vách đất ở trên đất ăn 1 cái tết là đi, phù hợp lời trình bày của những người hàng xóm lân cận đất (ông Ả, bà X, ông B1) trình bày gia đình bà T có ở trên đất.
Như vậy, có cơ sở xác định gia đình ông Đ, bà T có thời gian từng sinh sống trên đất tranh chấp và có đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07-11-1995 đối với diện tích 168m² thửa 302 tờ bản đồ số 4, khi cụ B2 còn sống. Cụ B2 cũng đăng ký kê khai quyền sử dụng đất vào thời gian ông Đ kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00479-QSDD vào ngày 07-11-1995 đối với thửa 235 tờ bản đồ số 4 diện tích 763m².
Tuy nhiên, các nguyên đơn không cung cấp được văn bản, tài liệu thể hiện có việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ B2 với ông Đ như nguyên đơn trình bày nên cần làm rõ ông Đ có phải là con của cụ K hay không, việc ông Đ kê khai quyền sử dụng đất trên cơ sở tặng cho hay do được cụ B2 chia thừa kế di sản của cụ K.
Trong khi chứng cứ quan trọng về việc giải quyết vụ án chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập đầy đủ theo quy định pháp luật, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là chưa đủ căn cứ, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn. Ngoài ra, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc các nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch khi yêu cầu chia thừa kế không được chấp nhận cũng là không phù hợp.
Do vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây và kháng cáo của các nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định pháp luật.
[3] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên:
- - Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
11
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử:
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS ngày 28/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S.
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 17/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định pháp luật
- Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm sẽ được quyết định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S mỗi người 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai số 0016618 (Nguyễn Thị T1); 0016619 (Nguyễn Tấn T2); 0016620 (Nguyễn Thành N); 0016621 (Nguyễn Thị C) và Biên lai số 0016622 (Nguyễn Văn S) cùng ngày 09/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị T13 - N | Bùi Thị T14 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
12
- - Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
- - Các đương sự;
- - Lưu HS, VP, ĐTM
Bùi Thị Thu
13
Bản án số 917/2024/DS-PT ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất; thừa kế tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 917/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản là Quyền sử dụng đất; Thừa kế tài sản; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS ngày 28/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Tấn T2, ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn S
