|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 916/2024/HSPT Ngày: 26/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
- + Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
- Bà Chử Phương Ngọc
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Phương Minh- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hoan- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 427/2024/HSPT ngày 13/5/2024 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Hồng Q đối với bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Vũ Hồng Q, sinh năm 1995.HKTT: Duy H, D, Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12. Bố: Vũ Văn Đ, sinh năm 1966. Mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1969. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2. D chỉ bản số 966 ngày 11/11/2023 do Công an quận N lập. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Bị cáo không kháng cáo: Đỗ Văn H1, sinh năm 2003. HKTT và chỗ ở: TDP T, Đ, N, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ văn hoá: 10/12. Bố: Đỗ Văn Q1, sinh năm 1972 (đã chết). Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2. D chỉ bản số 965 ngày 11/11/2023 do Công an quận N lập. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, Tòa không triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không kháng cáo, Tòa không triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa:
Công ty Cổ phần D4 hàng nhanh. Địa chỉ trụ sở: 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H2, sinh năm: 1988, NKTT: số C C B, phường A, quận D, TP .), chức vụ: Tổng giám đốc. Không kháng cáo, Tòa không triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thì vụ án có nội dung như sau:
Công ty Cổ phần D4 hàng nhanh là công ty hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, logistics (giao hàng thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát) có trụ sở tại: 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, do anh Lương Duy H2 (sinh năm: 1988, NKTT: số C C B, phường A, quận D, TP .), chức vụ: Tổng giám đốc, là đại diện theo pháp luật. Công ty có các địa điểm kinh doanh tại B Khu chức năng đô thị Thành phố X, phường C, N, Hà Nội và tại số F, H, phường Đ, N, Hà Nội. Theo quy định của công ty, khi khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa thì khách hàng sẽ tạo đơn hàng trên hệ thống của công ty T16 địa chỉ W là: https://khachhang.ghn.vn (“Hệ thống”), sau khi nhận được đơn hàng của khách, nhân viên của công ty sẽ đến địa chỉ của khách hàng nhận hàng và giao đến cho người nhận. Trường hợp, đơn hàng của khách có yêu cầu thu tiền từ người nhận hàng thì công ty sẽ thu tiền của người nhận và hoàn trả lại cho khách hàng gửi.
Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q là nhân viên của công ty, làm việc theo hợp đồng dịch vụ đã ký. Trong đó, Đỗ Văn H1 đã ký với công ty Cổ phần D4 (đại diện bà Lê Thị Đoan T1 – Giám đốc nhân sự) Hợp đồng dịch vụ số 3038277/HĐDV/EXP/2022, thời hạn từ ngày 18/9/2022 đến ngày 30/9/2023, địa điểm làm việc tại Bưu cục F H, phường Đ, N, Hà Nội. Vũ Hồng Q đã ký Hợp đồng dịch vụ số 3036464/HĐDV/EXP/2022, thời hạn từ ngày 29/8/2022 đến ngày 30/9/2023, địa điểm làm việc tại bưu cục B1, quận N, Hà Nội. Nhiệm vụ hàng ngày của Q và H1 là nhận lệnh từ công ty để giao hàng cho khách và thu tiền đơn hàng từ người nhận (được gọi là tiền COD) đối với các đơn hàng đã giao thành công, sau đó cập nhật trạng thái giao hàng lên ứng dụng Tài xế M-PDS. Theo đó, Q và H1 sẽ căn cứ vào số tiền các đơn hàng mà Q, H1 đã giao và thu lại đúng số tiền của đơn hàng từ người nhận. Vào 23h cùng ngày, Q và H1 có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền đã thu từ người nhận và chuyển nộp về cho công ty.
1- Trường hợp Đỗ Văn H1: Trong ngày 26/11/2022 và 28/11/2022, H1 đã nhận 59 đơn hàng từ Bưu cục số F H, phường Đ, quận N, Hà Nội, để giao cho khách. Sau đó, H1 đã giao và thu tiền của 59 khách hàng (hình thức thu là nhận tiền mặt và nhận tiền chuyển khoản từ các khách hàng chuyển khoản vào số tài khoản 0329256649 của H1 tại ngân hàng M4) với tổng số tiền là 50.227.748 đồng và sau đó H1 đã cập nhật lên hệ thống phần mềm của công ty T17 “giao thành công” cho 59 đơn hàng, nhưng sau đó H1 không đem tiền về nộp cho công ty theo quy định mà chiếm đoạt để sử dụng chi tiêu cá nhân hết, dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, cụ thể:
Ngày 26/11/2022, H1 đã giao đơn hàng cho chị Nguyễn Thị Vân H3 (sinh năm: 1979; HKTT: Tòa nhà Rainbow Văn Q2, H, Hà Nội), đơn hàng có mã vận đơn là GAH3DMBT với tổng giá trị đơn hàng là 19.289.993 đồng. Ngày 26/11/2022, chị H3 đã nhận được hàng và thanh toán số tiền 19.290.000 đồng cho H1, hình thức thanh toán là chuyển khoản từ số tài khoản 19032848288012 của chị H3 chuyển vào tài khoản của H1 số 0329256649 tại ngân hàng M5. Mặc dù đã giao hàng và nhận tiền nhưng H1 đã cập nhật lên hệ thống “khách hẹn lại giao ngày giao 28/11/2022” sau đó chiếm đoạt và sử dụng số tiền này mà không nộp về công ty theo quy định. Đến ngày 28/11/2022, H1 mới cập nhật “giao thành công” lên hệ thống – BL 524 – 527).
Ngày 28/11/2022, H1 nhận và đã giao 58 đơn hàng, trong đó có 2 đơn hàng có giá trị trên 2 triệu đồng, gồm: Đơn hàng của chị Lê Thị T2 (sinh năm:1984; HKTT: Giao Hà, G, Nam Định; Địa chỉ: số A Q, phường Đ, quận N, Hà Nội) có mã đơn hàng là GAH3BX8B gồm tiền hàng và chi phí vận chuyển tổng cộng là 12.435.192 đồng. Ngày 28/11/2022, chị T2 nhận được hàng và đã thanh toán tiền mặt số tiền 12.435.192 đồng cho H1 (BL 528 – 529) và đơn hàng của chị Trần Thanh P (sinh năm: 2003, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) có giá trị đơn hàng 2.320.000 đồng (BL 498 – 500). Ngoài ra, ngày 28/11/2022, H1 còn giao 56 đơn hàng có giá trị dưới 2 triệu đồng, gồm: đơn hàng của anh Trần Văn H4 (sinh năm: 1988, NKTT: P 234, KĐT T, xã C, T, Hà Nội) đơn hàng 51.000 đồng (BL 487 – 491); bà Bùi Thị N (sinh năm: 1963, NKTT: Nhà A ngõ C ngách C đường G T, N, Hà Nội) đơn hàng 458.000 đồng (BL 516 – 523); chị Nguyễn Hồng A (sinh năm: 1995, NKTT: TDP 1 M, phường M, N, Hà Nội) đơn hàng 650.000 đồng (BL 443 – 447); chị Nguyễn Thị Anh Đ1 (sinh năm: 1990, NKTT: TDP Dộc, T, N, Hà Nội) đơn hàng 186.000 đồng (BL 464 – 467); chị Nguyễn Thị L (sinh năm: 1995, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 222.000 đồng (BL 472 – 474); chị Nguyễn Thị H5 (sinh năm: 1985, NKTT: TDP Lò, T, N, Hà Nội) đơn hàng 1.565.000 đồng (BL 562 – 565); anh Nguyễn Văn C (sinh năm: 1987, Chỗ ở: Ngõ A, T, N, Hà Nội) đơn hàng 300.000 đồng (BL 503 – 505); Ngày 28/11/2022 anh Phí Đình D1 (sinh năm: 1990, NKTT: TDP Lò, T, N, Hà Nội) nhận đơn hàng 429.000 đồng (BL 428 – 433); chị Phạm Thị N1 (sinh năm: 1988, NKTT: TDP M, T, N, Hà Nội) đơn hàng 741.800 đồng (BL 542 551); chị Trần Thị Nguyệt Á (sinh năm: 2004, NKTT: số nhà C ngách A phố C, TDP H, T, N, Hà Nội) đơn hàng 410.000 đồng (BL 555 – 557); anh Nguyễn Văn T3 (sinh năm: 1991, NKTT: TDP số 2, N, Đ, N, Hà Nội) đơn hàng 410.000 đồng (BL 533 – 535); chị Vũ Thị Phương H6 (sinh năm: 1995, Nơi ở: P 0618, S 202 Vinhome S, T, N, Hà Nội) đơn hàng 163.900 đồng (BL 530 – 532); anh Trần Đăng M (sinh năm: 2003, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 61.500 đồng (BL 558 – 560) ; chị Nguyễn Thị T4 (sinh năm: 1983, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 250.000 đồng (BL 480 – 482); ông Nghiêm Văn C1 (sinh năm: 1959, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 269.000 đồng (BL 495 – 497); chị Ngô Hà P1 (sinh năm: 2006, NKTT: TDP Lò, T, N, Hà Nội) đơn hàng 54.000 đồng (BL 475 – 477); chị Phạm Thị N2 (sinh năm: 1998, Chỗ ở: số F ngõ D Cầu C, T, N, Hà Nội) đơn hàng 114.995 đồng (BL 539 – 541); chị Trần Thanh P (sinh năm: 2003, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 227.500 đồng và đơn 382.500 đồng (BL 501 – 502); chị Nguyễn Thị H7 (sinh năm: 1979, chỗ ở: số C đường T, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 200.000 đồng; anh Nguyễn Hoàng D2 (sinh năm: 1986, chỗ ở: số A, ngõ A Cầu C, T, N, Hà Nội) đơn hàng 30.000 đồng; Ngày 28/11/2022 anh Bùi Văn T5 (sinh năm: 1978, NKTT: TDP L, phường T, N, Hà Nội) nhận đơn hàng 200.000 đồng (BL 434); chị Nguyễn Thị S (sinh năm: 1973, NKTT: số B ngõ A T, Y, H) đơn hàng 800.000 đồng (BL 435 – 441); anh Nguyễn Văn T6 (sinh năm: 1993, NKTT: khu G, P, C, Phú Thọ) đơn hàng 180.000 đồng (BL 442); chị Nguyễn Thị Y (sinh năm: 1981, NKTT: Khu G, Đ, H, Phú Thọ) đơn hàng 210.000 đồng (BL 448); chị Nguyễn Thị Y (sinh năm: 1994, NKTT: Đ, H, Hà Nội) đơn hàng 175.000 đồng (BL 449); chị Nghiêm Thị A1 (sinh năm: 1979, NKTT: TDP Dưới, T, N, Hà Nội) đơn hàng 532.000 đồng (BL 450); chị Đỗ Thị T7 (sinh năm: 1984, NKTT: TDP Dộc, T, N, Hà Nội) đơn hàng 38.900 đồng (BL 451); chị Nguyễn Thị H8 (sinh năm: 1985, NKTT: T, N, Hà Nội) đơn hàng 199.000 đồng (BL 452); anh Nguyễn Mạnh D3 (sinh năm: 2003, NKTT: số nhà E ngõ D Cầu C, T, N, Hà Nội) đơn hàng 410.000 đồng (BL 453 – 455); chị Phạm Thị L1 (sinh năm: 1996, NKTT: số nhà G, ngõ F Cầu C, T, N, Hà Nội) đơn hàng 217.999 đồng (BL 456 – 458); chị Trần Thị V (sinh năm: 1980, NKTT: TDP Lò, T, N, Hà Nội) đơn hàng 370.475 đồng (BL 459); anh Lê Công L2 (sinh năm: 1995, NKTT: Tòa I5 Imperia S, T, N, Hà Nội) đơn hàng 28.920 đồng (BL 461); chị Nguyễn Quỳnh T8 (sinh năm: 1987, NKTT: S103, CC V, TDP số H, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 300.000 đồng (BL 462); bà Nghiêm Thị Nguyệt N3 (sinh năm: 1957, NKTT: TDP L, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 338.000 đồng (BL 463); chị Nguyễn Thị G (sinh năm: 1975, NKTT: nông trường L, V, Yên Bái) đơn hàng 120.000 đồng (BL 468); chị Hoàng Diệu H9 (sinh năm: 1976, NKTT: TDP Lò, T, N, Hà Nội) đơn hàng 99.000 đồng (BL 469); anh Cao Ngọc S1 (sinh năm: 1992, NKTT: Cẩm Quý, C, Thanh Hóa) đơn hàng 135.000 đồng (BL 470 – 471); bà Bùi Thị L3 (sinh năm: 1959, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 600.000 đồng (BL 483); chị Nguyễn Thị H5 (sinh năm: 1989, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 228.000 đồng (BL 484 – 486) ; chị Nguyễn Thị Lệ H10 (sinh năm: 1981, NKTT: TDP Dộc, T, N, Hà Nội) đơn hàng 135.000 đồng (BL 492 – 494) ; chị Bùi Thị C2 (sinh năm: 1971, NKTT: TDP Hạnh, T, N, Hà Nội) đơn hàng 280.000 đồng (BL 506); anh Hoàng Anh T9 (sinh năm: 2002, NKTT: TDP P, T, N, Hà Nội) đơn hàng 170.000 đồng (BL 507); chị Nguyễn Thị M1 (sinh năm: 1988, NKTT: tổ A, phường P, B, Hà Nội) đơn hàng 238.000 đồng (BL 508); chị Lê Khánh H11 (sinh năm: 1990, NKTT: TDP P, T, N, Hà Nội) đơn hàng 314.000 đồng (BL 509); chị Đinh Thị Kim H12 (sinh năm: 1990, NKTT: TDP P, T, N, Hà Nội) đơn hàng 249.300 đồng (BL 510); chị Trần Thu T10 (sinh năm: 1999, NKTT: TDP P, T, N, Hà Nội) đơn hàng 399.000 đồng (BL 511 – 512); chị Đàm Hải H13 (sinh năm: 1987, NKTT: CT6a, B, H, Hà Nội) đơn hàng 433.700 đồng (BL 513); chị Nguyễn Thị H7 (sinh năm: 1979, chỗ ở: số C, đường T, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 200.000 đồng (BL 514); anh Nguyễn Duy T11 (sinh năm: 1978, NKTT: xóm D, T, N, Hà Nội) đơn hàng 109.575 đồng (BL 515); chị Lê Thùy L4 (sinh năm: 1996, NKTT: S2, TDP số A, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 269.000 đồng (BL 536); chị Lê Thị P2 (sinh năm: 1993, HKTT: Y, Đ, Hà Tĩnh) đơn hàng 483.000 đồng (BL 537 – 538); anh Nguyễn Văn N4 (sinh năm: 1994, NKTT: Tây Ninh, S, TX S, Hà Nội) đơn hàng 229.000 đồng (BL 552 – 553); chị Nguyễn Thị Kim O (sinh năm: 1988, NKTT: TDP P, phường T, N, Hà Nội) đơn hàng 124.000 đồng (BL 554); anh Lê Thanh H14 (sinh năm: 1971, NKTT: xã H, huyện N, Hải Dương) đơn hàng trị giá 390.000 đồng (BL 565).
Như vậy, tổng số tiền Đỗ Văn H1 đã giao 59 đơn hàng và thu tiền của khách hàng trong ngày 26/11 và ngày 28/11/2022 sau đó chiếm đoạt là 50.227.748 đồng (trong đó ngày 26/11/2022 có 01 một đơn hàng trị giá 19.290.000đồng; Ngày 28/11/2022, có 02 đơn hàng trị giá 12.435.192 đồng và 2.320.000 đồng và 56 đơn hàng có trị giá dưới 2.000.000đồng).
2- Trường hợp Vũ Hồng Q: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/11/2022 đến ngày 27/11/2022, Vũ Hồng Q nhận 09 đơn hàng từ bưu cục B1 (Cầu D, N, Hà Nội) để giao cho khách hàng nhận theo địa chỉ các đơn hàng, thu tiền của khách hàng nhận (hình thức tiền mặt hoặc nhận tiền chuyển khoản). Q đã giao hàng thành công cho khách 09 đơn hàng nhưng sau đó Q đã vào hệ thống để cập nhật trạng thái các đơn hàng là “giao thất bại”, mục đích để bưu cục không biết việc Q đã giao hàng thành công để không phải nộp tiền về bưu cục theo quy định nhằm chiếm đoạt số tiền của 09 đơn hàng, cụ thể: Ngày 25/11/2022, Q giao đơn hàng của chị Đàm Thị Thanh T12 (sinh năm: 2002; HKTT: Khu C, Đ, T, Phú Thọ; Địa chỉ: Đơn nguyên C, KTX M, M, N, Hà Nội), mã vận đơn GAHPFAYG, trị giá 4.032.999 đồng. Chị T12 đã nhận hàng và thanh toán tiền mặt cho Q (BL 383 – 386); Đơn hàng mã GAHBG6FV, trị giá 3.081.000 đồng của chị Trịnh Huyền T13 (sinh năm: 1985; HKTT: Tiểu khu H, TT L, L, Hòa Bình; Địa chỉ: số nhà F, ngõ C P, K, phường C, Hà Nội), Q đã giao hàng và nhận thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 0901000102600 của Q mở tại ngân hàng V2 (BL 390 – 395); Đơn hàng mã GAHPMK7E, trị giá 4.961.500 đồng của chị Trần Nữ Minh N5 (sinh năm: 1993; HKTT: TDP 15, Cầu D, N Hà Nội; Địa chỉ: P28.1-CT1A, CC I, Cầu D, N, Hà Nội), Q đã giao hàng và chị N5 đã thanh toán bằng tiền mặt (BL 396 – 399). Đơn hàng mã vận đơn GAHNDDFX, trị giá 3.550.000 đồng của bà Vũ Thị Thu T14 (sinh năm: 1968; HKTT: 2XT-TT- ĐHXD Bách Khoa, H, Hà Nội; Địa chỉ: B, Lô F, KĐT Định Công, Đ, H, Hà Nội, giao hàng tại cổng Bệnh viện T18), Q giao hàng và nhận thanh toán bằng tiền mặt (BL 400 – 402). Đến ngày 27/11/2022, Q giao đơn hàng mã HLS159272211261, trị giá 2.250.000 đồng cho chị Nguyễn Thị B (sinh năm: 1973; HKTT: P302-CT5, Đơn nguyên C, M, quận N, Hà Nội), Q giao hàng và nhận thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 0901000102600 của Q mở tại ngân hàng V2 (BL 417 – 422). Ngoài ra ngày 27/11/2022, Q giao các đơn hàng cho chị Trần Thị T15 (sinh năm: 1986, nơi ở hiện tại: CC Iris Gaden, Cầu D, N, Hà Nội) đơn hàng 1.270.000đ (bao gồm cả phí vận chuyển - BL 407 – 409); Ngày 26/11/2022, chị Kim Thị Cẩm V1 (sinh năm: 1984, tại P506, CT3A, KĐT M, TDP A, M, N, Hà Nội) đơn hàng trị giá 1.432.000 đồng (BL 403 – 406); Ngày 27/11/2022, chị Trần Thị H15 (địa chỉ: C3, 30 T, Cầu D, N, Hà Nội) nhận đơn hàng 929.000 đồng (BL 410 – 413). Ngày 27/11/2022, chị Phùng Thanh X1 (sinh năm: 1982, nơi ở hiện tại: P712, CT5, đơn nguyên D, M, N, Hà Nội) nhận đơn hàng 710.000 đồng (BL 423 – 426).
Tổng số tiền Vũ Hồng Q đã thu của 09 khách hàng trong ngày 25/11 và ngày 27/11/2022 sau đó chiếm đoạt là 22.218.499 đồng (trong đó ngày 25/11/2022 có 04 đơn trị giá trên 2.000.000 đồng/01 đơn hàng và ngày 27/11/2022 có 01 đơn trị giá trên 2.000.000 đồng và 04 đơn hàng trị giá dưới 2.000.000đồng).
Sau khi giao hàng và nhận tiền hàng của khách xong, Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q không nộp về công ty vào cuối ngày theo quy định mà chiếm đoạt số tiền hàng đã nhận và bỏ việc không quay lại công ty làm việc. Do không thấy H1 và Q nộp tiền về công ty vào cuối ngày theo quy định nên ông Lưu Văn M2 (sinh năm: 1998, NKTT:TDP số 2, M, T, N, Hà Nội – chức vụ: Trưởng bưu cục số 66 H) và chị Trần Thị Thiện M3 (sinh năm: 1974, NKTT: 418B T5 CC 2 TSN, B, P14, T, TP . – Chức vụ: Giám đốc kiểm toán nội vụ công ty) đã liên lạc với H1 và Q để hỏi nhưng không liên lạc được và do sau đó H1 và Q không quay lại công ty làm việc nên ngày 28/12/2022, bà Trần Thị Thiện M3 (đại diện theo ủy quyền của công ty Cổ phần D4 hàng nhanh) đã gửi đơn đến Công an quận N tố giác Vũ Hồng Q và Đỗ Văn H1 đã có hành vi chiếm đoạt 22.218.000 và 50.227.748 đồng qua việc giao hàng, thu tiền của khách hàng nhưng không nộp lại công ty.
Quá trình điều tra, ngày 03/01/2023 và ngày 05/6/2023, bà Nguyễn Thị T (mẹ của Đỗ Văn H1) và Vũ Hồng Q đã khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền H1 và Q đã chiếm đoạt cho công ty Cổ phần D4. Công ty không còn yêu cầu về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q phạm tội “Tham ô tài sản".
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Xử phạt: Đỗ Văn H1 5 (năm) tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Vũ Hồng Q 5 (năm) tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 15/3/2024, bị cáo Vũ Hồng Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản,, theo điểm c, khoản 2, Điều 353- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự từ đó xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là có phần nghiêm khắc.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo đã có thời gian tham gia trong quân đội, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo đã từng tham gia quân đội, trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế được tặng kỷ niệm chương của sư đoàn C4, hiện đang bị ung thư dây thanh quản nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung
Đối với bị cáo Đỗ Văn H1 mặc dù số tiền bị cáo chiếm đoạt nhiều hơn bị cáo Q, bị cáo không kháng cáo, nhưng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là quá nặng, do đó cũng có thể xem xét giảm nhe một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355, điểm c, khoản 1, khoản 3, Điều 357- BLTTHS sửa một phần bản án sơ thẩm, cụ thể:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Xử phạt: Đỗ Văn H1 từ 48 tháng tù đến 51 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Vũ Hồng Q từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Hồng Q thì thấy:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để khẳng định:
Ngày 25/11/2022, 27/11/2022 và 28/11/2022, tại công ty Cổ phần D4, địa điểm kinh doanh: B16-03 Khu chức năng đô thị Thành phố X, phường C, N, Hà Nội và số F H, phường Đ, N, Hà Nội, Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q (là nhân viên ký hợp đồng dịch vụ của công ty) đã lợi dụng quyền hạn được công ty giao nhiệm vụ đi giao hàng cho khách và thu tiền hàng về nộp cho công ty nhưng sau khi giao hàng và thu được tiền, H1 và Q đã không nộp tiền về công ty ngay trong ngày theo quy định mà chiếm đoạt để sử dụng chi tiêu cá nhân sau đó nghỉ việc, cụ thể:
Ngày 26/11 và ngày 28/11/2022, Đỗ Văn H1 đã giao 59 đơn hàng (trong đó ngày 26/11/2022, H1 giao và thu tiền 01 đơn hàng có trị giá 19.290.000 đồng; ngày 28/11/2022, H1 giao và thu tiền 02 đơn hàng có trị giá 12.435.192 đồng và 2.320.000 đồng và thu 56 đơn hàng có trị giá dưới 2.000.000 đồng/01 đơn hàng, với tổng số tiền là 16.182.556 đồng). Tổng số tiền Đỗ Văn H1 chiếm đoạt là 50.227.748 đồng.
Ngày 25/11/2022 và 27/11/2022, Vũ Hồng Q đã giao 09 đơn hàng (trong đó ngày 25/11/2022, Q đã giao và thu tiền 04 đơn hàng có trị giá 4.032.999 đồng, 3.081.000 đồng, 4.961.500 đồng và 3.550.000 đồng; Ngày 27/11/2022, Q giao 01 đơn hàng trị giá 2.250.000 đồng và giao 04 đơn hàng có trị giá dưới 2.000.000 đồng với tổng số tiền là 4.343.000 đồng). Tổng số tiền Vũ Hồng Q đã chiếm đoạt là 22.218.499 đồng.
Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 353- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự từ đó xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là quá nghiêm khắc.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo đã có thời gian tham gia trong quân đội, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo đã từng tham gia quân đội, trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế được tặng kỷ niệm chương của sư đoàn C4, hiện đang bị ung thư dây thanh quản nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Đỗ Văn H1 mặc dù số tiền bị cáo chiếm đoạt nhiều hơn bị cáo Q, bị cáo không kháng cáo, nhưng bị cáo cũng giống như bị cáo Q, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là quá nặng, do đó cũng có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, khoản 3, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự: Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cụ thể:
1.1- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H1 và Vũ Hồng Q phạm tội “Tham ô tài sản”.
1.2- Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c, khoản 2, Điều 353; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 54- BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt:
- - Bị cáo Đỗ Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Bị cáo Vũ Hồng Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên.
|
Nơi nhận:
|
T/m. hội đồng xét xử PHÚC thẩm THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thanh Huyền |
Bản án số 916/2024/HSPT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: tham ô tài sản
- Số bản án: 916/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
