Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 916/2024/HC-PT

Ngày: 27-8-2024

V/v Khiếu kiện Quyết định hành chính.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Trần Thị Hòa Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 454/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2295/2024/QĐPT-HC ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Mai Thanh T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số A N, Khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 02924, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 thực hiện ngày 10/4/2023) (có mặt).

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Địa chỉ: Số D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Xuân V, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Địa chỉ: G T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn M, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Sơn L1, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

2/ Bà Lê Thị H, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số A N, Khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 02924, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 thực hiện ngày 10/4/2023) (có mặt).

Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận là người bị kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Ngày 29/11/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố P ban hành Quyết định số 6698/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất 68.391,3m² của hộ ông Mai Thanh T nhưng không bồi thường về đất nên ông T đã khởi kiện. Ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 243/2019/HC-ST về việc chấp nhận yêu cầu của ông Mai Thanh T. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P có trách nhiệm ban hành Quyết định bồi thường diện tích đất bị thu hồi đúng quy định của luật đất đai.

Ngày 13/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 471/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ Mai Thanh T thường trú Khu phố A, phường H, thuộc dự án Sân bay P tại xã T, thành phố P (Gọi là Quyết định 471).

Tuy nhiên, Quyết định 471 căn cứ vào Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND tỉnh B ngày 26/12/2014 để áp giá bồi thường cho hộ ông Mai Thanh T là không đúng quy định của luật đất đai.

Vì vậy, ông Mai Thanh T đề nghị Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T.

- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T theo đúng quy định tại quyết định số 37/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Tại công văn số 3310/UBND-NC ngày 14/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, phía người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Hộ ông Mai Thanh T có đất bị thu hồi trong Dự án xây dựng Sân bay P, tại xã T.

Ngày 29/11/2013, UBND thành phố P banh hành Quyết định số 6698/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Mai Thanh T với tổng diện tích 68.391,3m² để thực hiện dự án xây dựng Sân bay P, tại xã T.

Ngày 28/9/2015, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2526/QĐ-UBND về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để làm cơ sở thực hiện bồi thường về đất thuộc dự án Sân bay P.

Ngày 01/3/2017, UBND thành phố ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T.

Ngày 01/11/2017, UBND thành phố ban hành Quyết định số 7710/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Mai Thanh T, nội dung của Quyết định là không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Mai Thanh T, giữ nguyên nội dung Quyết định số 24.

Không đồng ý với kết quả giải quyết của UBND thành phố, Hộ ông Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu Toà án hủy Quyết định số 7710/QĐ-UBND ngày 03/11/2017 của Chủ tịch UBND thành phố P, đồng thời buộc UBND thành phố P thực hiện hành vi hành chính ban hành Quyết định phê duyệt bổ sung kinh phí bồi thường về đất đối với diện tích đất mà hộ ông T bị thu hồi là 68.391,3m².

Ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 243/2019/HC-PT tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T.

Hủy Quyết định số 7710/QĐ-UBND ngày 03/11/2017 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Mai Thanh T và Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 01/3/2017 của UBND thành phố P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Mai Thanh T để thực hiện Công trình xây dựng Sân bay P.

2. UBND thành phố P có trách nhiệm ban hành Quyết định bồi thường diện tích đất bị thu hồi đúng quy định của Luật Đất đai.

Thực hiện theo Bản án số 243/2019/HC-PT ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố họp vào các ngày 11/8/2022 và 12/8/2022 kết luận:

- Về đất: Đủ điều kiện bồi thường theo diện tích thu hồi 68.391,3m², loại đất trồng cây lâu năm.

- Cây trái, hoa màu trên đất: Đủ điều kiện bồi thường.

- Về hỗ trợ:

+ Đủ điều kiện hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho toàn bộ diện tích đất thu hồi 68.391,3m².

+ Đủ điều kiện hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều Điều 74 Luật Đất đai 2013. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:

“2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Ngày 29/11/2013, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6698/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Mai Thanh T với tổng diện tích 68.391,3m² để thực hiện dự án xây dựng Sân bay P, tại xã T.

Ngày 28/9/2015, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2526/QĐ-UBND về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để làm cơ sở thực hiện bồi thường về đất thuộc dự án Sân bay P.

Về bồi thường đất: Áp dụng thực hiện tại Quyết định số 59/2014/QĐ- UBND ngày 26/12/2014 (quy định bảng giá các loại đất) và Quyết định số 2526/QĐ-UBND ngày 28/9/2015 (hệ số điều chỉnh giá đất cụ thể) của UBND tỉnh B.

Áp dụng các quy định trên, ngày 15/02/2023, UBND thành phố ban hành Quyết định số 528/QĐ-UBND Quyết định về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T thuộc dự án Sân bay P tại xã T, thành phố P, với số tiền là 4.405.570.350 đồng (bằng chữ: Bốn tỷ bốn trăm lẻ năm triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, ba trăm năm mươi đồng) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Ngày 20/02/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã chi trả tiền cho ông hộ Mai Thanh T. Do đó, UBND thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân thành tỉnh Bình Thuận bác đơn khởi kiện của ông Mai Thanh T.

Tại công văn số 648/TTPTQĐ ngày 20/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trung tâm phát triển Quỹ đất thành phố P trình bày: Thống nhất với phần trình bày của Ủy ban nhân dân thành phố P. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T vì yêu cầu không có căn cứ.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • - Điều 3, Điều 30, Khoản 4 Điều 32, Khoản 2 Điều 116, Điểm b Khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 6 Điều 210, khoản 2 Điều 74, điểm a khoản 3 Điều 69 luật đất đai năm 2013;
  • - Khoản 3, điểm a Khoản 4 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP;
  • - Điểm c Khoản 1 Điều 72 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B;
  • - Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T về việc:

Hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T thường trú khu phố A, phường H, thuộc dự án Sân bay P tại xã T, thành phố P.

Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

  • - Không chấp nhận hủy quyết định có liên quan số 528/QĐ-UBND ngày 15/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc chi trả bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T thuộc dự án Sân bay P.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/02/2024, UBND thành phố P có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim L là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không thay đổi, bổ sung, không rút đơn khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận không thay đổi, bổ sung, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới và không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận các đương sự trình bày như sau:

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận trình bày: Thực hiện theo Bản án số 243/2019/HC-PT ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân thành phố P đã ban hành Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T và Quyết định số 528/QĐ-UBND ngày 15/02/2023 về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T thuộc dự án Sân bay P tại xã T, thành phố P, với số tiền là 4.405.570.350 đồng (bằng chữ: Bốn tỷ bốn trăm lẻ năm triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, ba trăm năm mươi đồng) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Ngày 20/02/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã chi trả tiền cho ông hộ Mai Thanh T. Do đó, UBND thành phố P đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Ủy ban, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của ông Mai Thanh T.

Bà Nguyễn Thị Kim L là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Quyết định 471 căn cứ vào Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND tỉnh B ngày 26/12/2014 để áp giá bồi thường cho hộ ông Mai Thanh T là không đúng quy định của luật đất đai, bản án sơ thẩm đã xét xử là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về nội dung: Yêu cầu hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của UBND thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T là có căn cứ, bản án sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T và buộc Ủy ban nhân dân thành phố P phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của UBND thành phố P làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:

Ông Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định hành chính số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T; buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T theo đúng quy định tại quyết định số 37/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xác định quan hệ tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và thụ lý, xét xử là có căn cứ, đúng quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32, điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[3] Xét kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố P, nhận thấy:

Thời điểm UBND thành phố P có Quyết định số 6698/QĐ- UBND thu hồi diện tích đất 68.391,3m² của hộ ông Mai Thanh T vào ngày 29/11/2013. Tuy nhiên, đến ngày 13/02/2023 thì Ủy ban nhân dân thành phố P mới ban hành Quyết định số 471/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ Mai Thanh T với tổng số tiền là 4.405.570.350 đồng.

Tại Khoản 6 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đối với những dự án, hạng mục đã chi trả xong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng theo quy định của Luật này. Trường hợp những dự án, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng theo quy định của Luật này”.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 72 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 được sửa đổi tại khoản 20 Điều 1 Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 25/01/2018 của UBND tỉnh có quy định: “Đối với các dự án có các trường hợp đã có quyết định thu hồi chi tiết, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chi tiết cho từng người có đất bị thu hồi hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo phương án đã được duyệt trước ngày 01/7/2014 thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng Luật đất đai năm 2013.”

Tại Khoản 3 và Đ a Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định:

“3. Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt.

4. Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất nhưng chưa có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì giải quyết theo quy định sau đây:

a) Đối với dự án thuộc trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai, chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép tiếp tục lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai năm 2013”.

Như vậy, trường hợp hộ ông Mai Thanh T được phê duyệt phương án hỗ trợ sau ngày Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực (01/7/2014) cho nên theo quy định tại khoản 6 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013, điểm c khoản 1 Điều 72 Quyết định số 08/2015 ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B, Khoản 3 và Đ a Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định thì việc tính toán phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T phải được thực hiện theo quy định tại Luật đất đai năm 2013.

Ngày 29/11/2013, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6698/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất 68.391,3m² của hộ ông Mai Thanh T nhưng do không bồi thường về đất nên ông T đã khởi kiện. Ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 243/2019/HC-ST về việc chấp nhận yêu cầu của ông Mai Thanh T. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P có trách nhiệm ban hành Quyết định bồi thường diện tích đất bị thu hồi đúng quy định của luật đất đai. Căn cứ vào Bản án trên, ngày 13/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố P mới ban hành Quyết định 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thành T1.

Tại khoản 2 Điều 74 Luật đất đai 2013 quy định:

“Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”

Tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật đất đai 2013 quy định:

“a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;"

Như vậy, tại thời điểm ban hành Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thành T1 thì Quyết định 37/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành quy định về bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024) đang có hiệu lực nhưng Quyết định số 471/QĐ- UBND của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thành T1 thì áp dụng Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 quy định về bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (áp dụng từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2019) để tính bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thành T1 là không đúng quy định.

Vì vậy, yêu cầu của ông Mai Thanh T về việc hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND của UBND thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ Mai Thanh T là có cơ sở chấp nhận.

[4] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T, hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của UBND thành phố P là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện UBND thành phố P kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố P, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện UBND thành phố P phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính năm 2015,

Không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố P.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ vào:

  • - Điều 3, Điều 30, Khoản 4 Điều 32, Khoản 2 Điều 116, Điểm b Khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 6 Điều 210, khoản 2 Điều 74, điểm a khoản 3 Điều 69 luật đất đai năm 2013;
  • - Khoản 3, điểm a Khoản 4 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP;
  • - Điểm c Khoản 1 Điều 72 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B;
  • - Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh T về việc:
    • Hủy Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 13/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Mai Thanh T thường trú khu phố A, phường H, thuộc dự án Sân bay P tại xã T, thành phố P.
    • Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
    • Không chấp nhận hủy quyết định có liên quan số 528/QĐ-UBND ngày 15/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc chi trả bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Mai Thanh T thuộc dự án Sân bay P.
  2. Án phí hành chính phúc thẩm: UBND thành phố P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 161 ngày 20/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. UBND thành phố P đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn MinhTrần Thị Hòa HiệpVương Minh Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS, HQ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 916/2024/HC-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 916/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố Phan Thiết. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger