Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 915/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Ông Lê Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Diệu Thùy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số 114/2024/DSST ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1029/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1382/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)

Địa chỉ trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị P, ông Nguyễn Khánh D, ông Trần Thứ L (ông L có mặt)

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thùy L1 – sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: A (số M L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V có ông Trần Thứ L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng TMCP V có ký với bà Nguyễn Thùy L1 các văn bản tín dụng vay vốn với nội dung như sau: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký số LN2207226305089 ngày 21/7/2022 tại Ngân hàng TMCP V (V1) cụ thể: số tiền vay: 183.750.000 đồng, mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất: 32%/năm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thùy L1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký, các khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 05/12/2022.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thùy L1 phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng nêu trên cho V1 tạm tính đến ngày ngày 30/9/2024 là 366.446.110 đồng (trong đó nợ gốc: 181.016.006 đồng, nợ lãi: 185.430.104 đồng)

Ngoài ra, bà Nguyễn Thùy L1 còn phải tiếp tục chịu nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng V1.

Bị đơn bà Nguyễn Thùy L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng bà L1 đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thứ L trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị đơn bà Nguyễn Thùy L1 vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2023 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Căn cứ kết quả xác minh của công an phường P, quận T thể hiện bà L1 có hộ khẩu thường trú tại A (số mới B L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà chuyển đi, không còn cư trú tại địa phương, hiện ở đâu không rõ. Do bà L1 có nơi cư trú cuối cùng tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2].Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Nguyễn Thùy L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà L1 đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

Bị đơn bà Nguyễn Thùy L1 không có mặt tại Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, để xem xét giải quyết.

[3.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:

Xét, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ký số LN2207226305089 ngày 21/07/2022 giữa Ngân hàng V1 và bà Nguyễn Thùy L1; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hai bên có xác lập hợp đồng theo mẫu chung do nguyên đơn dự thảo, theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015, việc hai bên ký hợp đồng theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời bị đơn bà L1 đã thực hiện thanh toán một số kỳ của hợp đồng (theo bảng kê khai tính lãi do nguyên đơn cung cấp) nên Hội đồng xét xử xét, hình thức và nội dung bản hợp đồng này được giao kết và thực hiện là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385, Điều 398, Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Trong vụ án này, bị đơn bà Nguyễn Thùy L1 không có yêu cầu phản tố.

[3.2] Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo đơn khởi kiện; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký số LN2207226305089 ngày 21/07/2022; bảng kê khai tính lãi do nguyên đơn lập, xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận từ ngày 05/12/2022 nên nguyên đơn yêu cầu bà L1 thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 366.446.110 đồng (trong đó nợ gốc: 181.016.006 đồng, nợ lãi: 185.430.104 đồng) theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ký số LN2207226305089 ngày 21/07/2022 là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà L1 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ cho nguyên đơn. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L1 thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.3]. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp nên chấp nhận.

[3.4]. Về thời hạn thanh toán:

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thùy L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 366.446.110 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thùy L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho ngân hàng TMCP V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 405, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V:

- Bà Nguyễn Thùy L1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn thiếu theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ký số LN2207226305089 ngày 21/07/2022 là 366.446.110 đồng (trong đó nợ gốc: 181.016.006 đồng, nợ lãi: 185.430.104 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thùy L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ký số LN2207226305089 ngày 21/07/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thùy L1 phải nộp số tiền án phí là 18.322.306 đồng

Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 5.553.184 đồng cho Ngân hàng TMCP V theo biên lai thu số 0007552 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (Vân).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 915/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 915/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger