|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 913/2023/HC-PT Ngày: 27/12/2023 Khiếu kiện quyết định hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng;
Bà Vũ Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 590/2023/TLPT-HC ngày 09 tháng 8 năm 2023 về việc “Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2022/HCST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14120/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 12 năm 2023 giữa:
* Người khởi kiện: Bà Phạm Thị L, địa chỉ: thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Bùi Minh Đ, Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (Có mặt).
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Hải T - Phó Chủ tịch UBND huyện S (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Xuân T1 - Chủ tịch UBND xã H, huyện S (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Đinh Công T2, bà Phạm Thị T3 và ông Nguyễn Trung T4, cùng địa chỉ: thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Đều vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3: Anh Đinh Công Bình sinh năm 1979, địa chỉ: thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và anh Tạ Văn T5, sinh năm 1980, địa chỉ: Tầng B, số D, ngõ I T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội (Đều có mặt).
- Anh Nguyễn Trung Đ1, địa chỉ: số B, ngách G, ngõ F, đường T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Hoài T6, địa chỉ: thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn C, địa chỉ: S Vinhomes S, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thùy L1, địa chỉ: số D Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Công T2, bà Phạm Thị T3: Ông Phạm Đức T7 - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai bà Phạm Thị L trình bày:
Gia đình bà có thửa đất tại thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nguồn gốc thửa đất này do bố mẹ chồng bà khai phá từ trước năm 1945. Đến năm 1978, bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà thửa đất này. Gia đình bà vẫn đóng thuế hàng năm, trên đất trồng rau xanh. Khoảng năm 1992-1993, gia đình bà cho ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 mượn một phần mảnh đất làm hố vôi và trồng rau. Khi cho mượn hai bên không làm giấy tờ mà chỉ trao đổi miệng. Năm 1996, gia đình bà được cấp GCNQSDĐ (bìa xanh). Ngày 24/4/2009, được UBND huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp lại GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m². Tháng 8/2021, gia đình bà xây kè và đổ đất thì biết được hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 chồng lên một phần diện tích đất (244,2m²) của gia đình bà. Việc UBND huyện S cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T2, bà T3 không minh bạch, trái quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Gia đình bà đã được xã đo đạc và cấp GCNQSDĐ đúng quy định. Khi gia đình nhà bà T3 làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, gia đình bà không được ký giáp ranh diện tích đất này. Quá trình sử dụng hộ ông T2, bà T3 có đào 01 giếng nước và trồng rau; nay bà muốn lấy lại
2
để sử dụng nhưng ông T2, bà T3 không nhất trí. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện đề nghị hủy GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 do UBND huyện S cấp cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 tại địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện S trình bày:
* Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 đang sử dụng thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 (bản đồ đo đạc 299), diện tích 130m², loại đất trồng cây hàng năm khác. Ngày 15/6/2013, hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 kê khai đăng ký và làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất nêu trên. Theo dự án đo đạc địa chính năm 2012 xã H là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55 (bản đồ đo đạc địa chính năm 2012), diện tích 244,2m² (tăng 114,2m² so với bản đồ 299), loại đất trồng cây lâu năm khác, nguồn gốc sử dụng đất là nhận chuyển nhượng năm 1988. Hồ sơ kê khai cấp giấy gồm:
- + Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ghi ngày 15/6/2013, UBND xã H kiểm tra xác nhận ngày 11/6/2014 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện S thẩm định ký xác nhận ngày 10/3/2015.
- + Kết quả đo đạc địa chính thửa đất ghi ngày 02/10/2012.
- + Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất ghi ngày 15/6/2013.
- + Biên bản nhượng lại nhà ở và hoa màu ghi ngày 25/4/1988 (bản viết tay).
Ngày 17/7/2015, UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BO 699468, số vào sổ CH 07999 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55 (bản đồ đo đạc địa chính năm 2012), diện tích 244,2m², loại đất trồng cây lâu năm khác, địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Đối với thửa đất của hộ ông Nguyễn Trung T4, bà Phạm Thị L:
Theo bản đồ giải thửa 299, hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị T3 có sử dụng thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 265m², loại đất trồng lúa; thửa số 254, tờ bản đồ số 46, diện tích 130m², loại đất trồng cây hàng năm khác; địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã H, huyện S.
Ngày 15/3/2004, hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L được Hội đồng giao đất xã H giao thửa đất 253, tờ bản đồ số 46 (bản đồ 299), diện tích 395m² (giao theo dồn đổi thửa, thửa đất số 253 được giao bao gồm 02 thửa đất là thửa số 253, diện tích 265m² và thửa 254, diện tích 130m², cộng gộp diện tích 02 thửa thành 395m²).
3
Ngày 11/4/2008, UBND xã H đã trích lục thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46 (bản đồ 299), diện tích 395m², loại đất trồng lúa để phục vụ cho công tác cấp GCNQSDĐ sau dồn đổi thửa.
Ngày 24/4/2009, UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số AL 492803, số vào sổ H 00467 cho hộ ông T4 và bà L tại thửa số 253, tờ bản đồ số 46 (bản đồ 299), diện tích 395m², loại đất trồng lúa; địa chỉ thôn G, xã H, huyện S.
* Kiểm tra hồ sơ quản lý đất đai trên địa bàn xã H.
Thực hiện đối chiếu, lồng ghép giữa bản đồ đo đạc 299 (tờ bản đồ số 46) với bản đồ đo đạc địa chính năm 2012 (tờ bản đồ số 55) phát hiện: Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55 (bản đồ đo đạc địa chính năm 2012), diện tích 244,2m² được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 2015 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 có 114,2m² đã cấp trùng vào diện tích của thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 (bản đồ đo đạc 299), diện tích 4.480m² đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 1999 và cấp đổi lại GCNQSDĐ năm 2009 cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L, thôn G và có diện tích 130m² đất đã cấp trùng vào diện tích của thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46 (bản đồ đo đạc 299), diện tích 395m² đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 2009 cho hộ ông T4, bà L.
Qua kiểm tra hồ sơ cấp GCNQSDĐ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ thì thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55 (bản đồ đo đạc địa chính năm 2012), diện tích 244,2m², loại đất trồng cây lâu năm khác đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015, số vào sổ CH 07999 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 có 114,2m² đất đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L năm 1999 tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 (bản đồ đo đạc 299), diện tích 4.480m², năm 2009 cấp đổi lại GCNQSDĐ và có 130,0m² đất đã được UBND huyện S cấp cho hộ ông T4, bà L tại thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46 (bản đồ đo đạc 299), diện tích 395m² năm 2009.
Như vậy, việc cấp GCNQSDĐ số BO 699468, số vào sổ CH 07999, cấp ngày 17/7/2015 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 là chưa đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T3 và ông Đinh Công T2 trình bày:
Thửa đất hiện gia đình ông bà đang sử dụng có nguồn gốc do ông Hoàng N là người khai phá đất năm 1976 (có xác nhận của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ), sau đó bán lại cho bà Chu Thị T8 ngày 05/10/1984 có xác nhận của hiệu trưởng là ông Nguyễn Đức V.
Ngày 25/4/1988, bà Chu Thị T8 làm giấy mua bán nhà đất bán lại thửa đất cho ông Đinh Công T2 là giáo viên trường THPT K, mảnh đất khai phá trên thuộc khu đồi do trường THPT K quản lý. Theo bản đồ đo đạc thực tế năm 2012, mảnh đất thuộc thửa số 23, tờ bản đồ số 55, chủ sử dụng Đinh Công T2.
4
Gia đình ông bà sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp từ năm 1988 đến ngày 17/7/2015 được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BO 699468 tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55, diện tích 244,2m², mục đích sử dụng đất: trồng cây lâu năm. Việc gia đình bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Trung T4 không có căn cứ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất của mình và trình bày nguồn gốc đất khai phá do ông cha để lại là không có căn cứ và không đúng sự thật.
Gia đình ông bà có đầy đủ giấy tờ chuyển nhượng, mua bán đất từ người chủ đầu tiên khai phá, sử dụng đất (có đơn xác nhận việc khai phá, mua bán, trao đổi; giấy tờ mua bán liên tục qua các chủ sử dụng đất, có sự chứng kiến của bên thứ ba là Trường THPT K). Ngày 01/10/2021, ông Hoàng N là người khai phá mảnh đất nói trên có đơn cam kết xác nhận nguồn gốc đất. Gia đình ông bà đã sử dụng đất liên tục trồng nhiều cây lâu năm (xoan đào, thu ba, mần tang...), các loại rau màu và đào 03 giếng nước xây kiên cố trên đất. Hai gia đình có mốc ranh giới xây dựng tường đá ngăn cách với mảnh đất của gia đình, tường dài khoảng 16m, chiều cao 4m, chiều rộng khoảng 0,7m. Một phía trồng cây lâu năm (cây xoan) để làm mốc, đã cùng cắm mốc để chôn cột bê tông làm bờ rào. Gia đình bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Trung T4 chưa bao giờ đòi đất, chưa từng có đơn gửi đến chính quyền địa phương giải quyết tranh chấp và không có căn cứ chứng minh việc gia đình ông bà mượn đất để sử dụng.
Năm 2015, gia đình ông bà làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, việc cấp GCNQSDĐ cho gia đình bà được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định, được công khai, minh bạch, gia đình ông T4, bà L không có ý kiến gì. Ngoài ra, gia đình bà Phạm Thị L, ông Nguyễn Trung T4 cũng thừa nhận ranh giới với mảnh đất gia đình bà đang sử dụng có xây dựng tường đá ngăn cách với mảnh đất của gia đình bà, tường dài khoảng 16m, chiều cao khoảng 04m, chiều rộng khoảng 0,7m. Một phía trồng cây lâu năm (cây xoan) để làm mốc, đã cùng cắm mốc với gia đình bà để chôn cột bê tông làm bờ rào. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.
Ngày 21/3/2022, bà Phạm Thị T3 có yêu cầu độc lập đề nghị hủy GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² do UBND huyện S, tỉnh tuyên Q cấp ngày 24/4/2009 cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L, địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Ngày 23/8/2022, bà Phạm Thị T3 bổ sung yêu cầu độc lập đề nghị hủy GCNQSDĐ số AL 492803 do UBND huyện S cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4, bà Phạm Thị L ngày 24/4/2009 tại thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 395m², trong đó có 139,4m² đất chồng lấn lên diện tích của gia đình bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H trình bày:
* Kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
5
Theo bản đồ rà soát năm 1993, thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 404, tờ bản đồ số 22, diện tích 540m², loại đất hoang, khu đồng nhím chưa có chủ sử dụng.
- Theo bản đồ phê duyệt năm 1996, thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² đất thổ cư, chủ sử dụng là ông Nguyễn Trung T4 đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 2009 và thửa đất số 254, tờ bản đồ số 46, diện tích 130m², đất màu bãi, sổ mục kê ghi chủ sử dụng là ông Nguyễn Trung T4, chưa được cấp GCNQSDĐ.
- Theo bản đồ đo đạc năm 2012, thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa số 23, tờ bản đồ số 55, diện tích 244,2m², loại đất trồng cây lâu năm, chủ sử dụng là ông Đinh Công T2, được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 2015.
Kiểm tra tại thực địa: Toàn bộ số diện tích hiện nay hai gia đình đang tranh chấp do gia đình ông Đinh Công T2 đang sử dụng để trồng cây, rau màu và có 02 giếng nước của nhà ông Đinh Công T2 đang sử dụng.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật, UBND xã H sẽ thực hiện theo bản án của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T4 trình bày:
Do sức khỏe nên không thể tham gia các buổi làm việc, xét xử của Tòa án nên xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Ông không có ý kiến gì và không có yêu cầu độc lập.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Nguyễn Trung Đ1, chị Nguyễn Thị Hoài T6, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thùy L1 thống nhất trình bày:
Ngày 24/4/2009, bố mẹ anh chị là ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 là hợp pháp và có đầy đủ hồ sơ lưu trữ tại UBND xã H, gồm có những giấy tờ chứng minh nguồn gốc như sau:
- - Bản đồ địa chính năm 1993 thể hiện thửa đất 403 có diện tích 2.740m², sổ mục kê năm 1993 lưu tại địa chính UBND xã H là 2.740m².
- - Bản đồ địa chính năm 1996 thể hiện thửa đất số TC 245, diện tích 4.480m² (đã bao gồm 2.740m² của năm 1993 và một số thửa đất trồng lúa chuyển sang trồng cây lâu năm của gia đình). Có sổ mục kê năm 1996 tại xã H.
- - Bản đồ địa chính năm 2012 thể hiện thửa đất số ONT 19/4.484,2m². Tuy nhiên lại xuất hiện thửa đất LNK 23/244,2m² (mảnh này được cấp cho nhà bà Phạm Thị T3 và ông Đinh Công T2) trong toàn bộ thửa đất của gia đình bố mẹ anh chị.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L: Anh chị hoàn toàn nhất trí với nội dung khởi kiện của bà Phạm Thị L, đề nghị hủy GCNQSDĐ số BO
6
699468 do UBDN huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 17/7/2015 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3; địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị T3: Anh chị không nhất trí và thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2023/HCST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 29, 30, 32; điểm b khoản 2 Điều 193; điểm a khoản 1 Điều 116; các Điều 191, 194, 206, 344, 348, 358, 359 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; Điều 98 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T9 quy định về Bản đồ địa chính; các Điều 30, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Phạm Thị L về việc yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 699468, thửa đất số 23, tờ bản đồ 55, diện tích 244,2m² do Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3, địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang ngày 17/7/2015.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T3 về việc yêu cầu:
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² do Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L, địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang ngày 24/4/2009.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 492803 do Ủy ban nhân dân huyện S cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L, địa chỉ: thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang ngày 24/4/2009, thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 395m².
Buộc Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, người khởi kiện là bà Phạm Thị L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị xử hủy GCNQSDĐ số BO 699468 do UBND huyện S đã cấp ngày 17/7/2015 cho hộ bà T3, ông T4; giữ nguyên 02 GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 và GCNQSDĐ số
7
AL 492803, thửa đất 253, tờ bản đồ số 46 cấp ngày 24/4/2009 cho hộ ông T4, bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Trung Đ1, chị Nguyễn Thị Hoài T6 và chị Nguyễn Thùy L1 vắng mặt không có lý do.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3 khi bà T3 không có đơn yêu cầu độc lập là vượt quá phạm vi xét xử; UBND huyện S cấp GCNQSDĐ thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46 và GCNQSDĐ đối với thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 cho hộ ông T4, bà L là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Phạm Thị T3, ông Đinh Công T2 không đảm bảo quy định pháp luật, gia đình bà L không được ký giáp ranh. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị T3 và công nhận 02 GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 và GCNQSDĐ số AL 492803, thửa đất 253, tờ bản đồ số 46 cấp ngày 24/4/2009 cho hộ ông T2, bà L.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 giữ nguyên yêu cầu độc lập. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T3, ông T2 đề nghị Hội đồng xét xử hủy 02 GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46 và GCNQSDĐ số AL 492803, thửa đất 253, tờ bản đồ số 46 cấp ngày 24/4/2009 cho hộ ông T2, bà L.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Sau khi đánh giá tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L và chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị T3 là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người khởi kiện không cung cấp được tài liệu gì mới để bảo vệ cho quan điểm của mình nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của người khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2022/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các đương sự và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
8
- [1]. Về tố tụng:
- - Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện là bà Phạm Thị L, người bị kiện là UBND huyện S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã H, huyện S vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- - Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Phạm Thị L gửi đến Tòa án đảm bảo đúng thời hạn, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 204, 205 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- - Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có nhận được “Đơn kiến nghị khẩn cấp” ghi tên Phạm Thị L, trong đó có nội dung “Tôi xin rút đơn yêu cầu kháng cáo kháng nghị... không xử lý tại Tòa án nhân dân cấp cao nữa” ghi ngày 02/8/2023, tại phần người đề nghị ký tên Phạm Thị L. Tuy nhiên, đơn không có xác nhận của chính quyền địa phương nên không có căn cứ xác định có đúng là đơn do bà L viết và thể hiện đúng ý chí của bà L hay không. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn C là con trai bà L cho rằng mẹ anh có ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, không có việc bà L xin rút đơn kháng cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung “Đơn kiến nghị khẩn cấp” này.
- - Về thời hiệu khởi kiện, đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Tháng 8/2021, bà Phạm Thị L biết được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Phạm Thị T3, ông Đinh Công T2 chồng lên GCNQSDĐ cấp cho gia đình bà. Ngày 29/10/2021, bà Phạm Thị L khởi kiện đề nghị hủy GCNQSDĐ số BO 699468 do UBND huyện S cấp cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3.
Bà Phạm Thị T3 trình bày khi hai gia đình tranh chấp quyền sử dụng đất và khi UBND xã H hòa giải không thành ngày 07/10/2021 thì bà mới biết hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L đã được cấp GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² chồng lên phần diện tích gia đình bà đang sử dụng và đã được cấp GCNQSDĐ. Ngày 21/3/2022, bà Phạm Thị T3 có yêu cầu độc lập đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² do UBND huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L ngày 24/4/2009.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/8/2022, bà Phạm Thị T3 bổ sung yêu cầu độc lập đề nghị hủy GCNQSDĐ số AL 492803 do UBND huyện S cấp cho hộ
9
ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L ngày 24/4/2009, thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 395m². Lý do có một phần diện tích thửa đất này (139,4m²) của hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L chồng lấn lên diện tích đất của gia đình bà, tại phiên tòa ngày 23/8/2022 bà mới được biết.
Như vậy, việc bà Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 do UBND huyện S cấp cho hộ bà Phạm Thị T3 và bà Phạm Thị T3 có yêu cầu độc lập đề nghị hủy 02 GCNQSDĐ số AL 492796, số AL 492803 cấp ngày 24/4/2009 cho hộ bà Phạm Thị L là trong thời hiệu khởi kiện; Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 3, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 do UBND huyện S cấp cho hộ bà Phạm Thị T3 và GCNQSDĐ số AL 492796, số AL 492803 do UBND huyện S cấp ngày 24/4/2009 cho hộ bà Phạm Thị L là quyết định cá biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Điều 3, Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện bà Phạm Thị L, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
[2.1]. Xét tính hợp pháp của GCNQSDĐ số BO 699468 do UBND huyện S cấp cho hộ ông Đinh Công T2, bà Phạm Thị T3; GCNQSDĐ số AL 492796 và GCNQSDĐ số AL 492803 cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4, bà Phạm Thị L.
[2.1.1]. Nguồn gốc thửa đất tranh chấp:
Theo bà Phạm Thị L trình bày nguồn gốc thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² do UBND huyện S cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L ngày 24/4/2009, địa chỉ thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang do bố mẹ chồng bà khai phá từ trước năm 1945. Năm 1978, bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà thửa đất này, gia đình bà vẫn đóng thuế hàng năm, trên đất trồng rau xanh. Khoảng năm 1992-1993, gia đình bà cho ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 mượn một phần mảnh đất làm hố vôi và trồng rau, khi cho mượn hai bên không làm giấy tờ mà chỉ trao đổi miệng. Năm 1996, gia đình bà L được cấp GCNQSDĐ (bìa xanh). Ngày 24/4/2009, được UBND huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp lại GCNQSDĐ số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m².
Tuy nhiên, bà Phạm Thị L không có căn cứ chứng minh việc gia đình bà cho ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 mượn đất năm 1992-1993. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/8/2022, bà Phạm Thị L trình bày có việc ông Hoàng N và bà H sử dụng đất, đào giếng tại diện tích đất hiện nay đang tranh chấp; sau đó bà Chu Thị T8 là người sử dụng và gia đình ông T2, bà T3 sử dụng từ khoảng năm 1992-1993.
10
Ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 trình bày: Thửa đất của gia đình ông bà có nguồn gốc do ông Hoàng N là người khai phá đất năm 1976 (có xác nhận của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ), sau đó bán lại cho bà Chu Thị T8 ngày 05/10/1984 (có xác nhận của ông Nguyễn Đức V là hiệu trưởng trường THPT K). Ngày 25/4/1988, bà Chu Thị T8 bán lại thửa đất cho ông Đinh Công T2, mảnh đất khai phá trên thuộc khu đồi do trường THPT K quản lý. Tuy nhiên, giấy tờ chuyển nhượng đất giữa ông Hoàng N và bà Chu Thị T8, giữa bà Chu Thị T8 chuyển nhượng lại cho ông Đinh Công T2 không thể hiện cụ thể vị trí thửa đất, diện tích, ranh giới thửa đất chuyển nhượng, không có xác nhận của cơ quan quản lý đất đai mà chỉ có xác nhận của hiệu trưởng Trường THPT K. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh bà Chu Thị T8 hiện nay không còn hộ khẩu tại xã H và không biết địa chỉ hiện nay nên không có căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất này. Hiệu trưởng trường THPT K xác nhận vào giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hoàng N cho bà Chu Thị T8 và giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Chu Thị T8 và ông Đinh Công T2 hiện nay đã chết. Hiệu trưởng hiện nay của trường THPT K xác nhận không có tài liệu thể hiện thửa đất này trước đây có nguồn gốc của trường THPT K và theo tài liệu hiện nay thể hiện thửa đất này không thuộc đất của trường THPT Κ.
[2.2]. Hồ sơ quản lý và quá trình sử dụng đất:
Theo bản đồ rà soát năm 1993, thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 404, tờ bản đồ số 22, diện tích 540m², loại đất hoang, khu Đ chưa có chủ sử dụng.
Theo bản đồ phê duyệt năm 1996, thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 245 tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² đất thổ cư, chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Trung T4. Ngày 29/3/1999, hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L được cấp GCNQSDĐ số I 599646, thửa đất số 245 tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m²; được UBND huyện S cấp đổi GCNQSDĐ năm 2009. Thửa đất số 254 tờ bản đồ số 46, diện tích 130m², đất màu bãi, thửa đất số 253 tờ bản đồ số 46, diện tích 265,0m² đất lúa. Năm 1999, hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L được cấp GCNQSDĐ số I 599646 ngày 29/3/1999 có thửa đất số 254, tờ bản đồ số 46, diện tích 130m². Năm 2009, Nguyễn Trung T4 được cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa đất 253, tờ bản đồ số 46 diện tích 395m², đất lúa (thửa 253 được gộp từ thửa 253 và 254). Thửa đất số 253 tờ bản đồ số 46, diện tích 265,0m² đất lúa theo sổ mục kê và sổ địa chính năm 1996 ghi chủ sử dụng là bà Vũ Thị H1, ngày 29/3/1999 bà H1 được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số L 599749.
Theo bản đồ đo đạc năm 2012 diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 55, diện tích 244,2m², chủ sử dụng là ông Đinh Công T2, được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ năm 2015.
11
Thửa đất được thể hiện trên bản đồ năm 1996, sổ địa chính, sổ mục kê mang tên ông Nguyễn Trung T4 nhưng bà Phạm Thị L thừa nhận ông Đinh Công T2, bà T3 sử dụng từ năm 1992-1993; ông T2, bà T3 khai sử dụng đất từ năm 1988 và có giấy mua bán chuyển nhượng đất với bà Chu Thị T8 năm 1988, gia đình ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 sử dụng đất ổn định không có tranh chấp, đến năm 2015 hộ ông T2, bà T3 được cấp GCNQSDĐ, năm 2021 mới phát sinh tranh chấp với hộ bà Phạm Thị L. Như vậy, có căn cứ xác định gia đình hộ bà Phạm Thị L đã không sử dụng diện tích thửa đất đang tranh chấp từ khoảng năm 1988 đến nay.
Theo mảnh trích đo hiện trạng thửa đất của Trung tâm K1 - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T ngày 25/7/2022 thể hiện: GCNQSDĐ số BO 699468 cấp cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 có diện tích 139,4m² cấp chồng với GCNQSDĐ số AL 492803 của hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L cùng diện tích 104,8m² cấp chồng với GCNQSDĐ số AL 492796 của hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ trên diện tích đất 244,2m² có 03 giếng nước (01 giếng đã bị lấp một nửa) do gia đình bà T3, ông T4 đào; gia đình bà T3, ông T4 còn trồng cây lâu năm như xoan, thu ba, mần tang khoảng năm 1992-1993, trồng rau màu (bút lục số 234)... Phần diện tích đang tranh chấp gia đình bà L, ông T4 xác định cho gia đình bà T3, ông T4 mượn nên không sử dụng, gia đình ông T4, bà L xây bức tường đá năm 2021 để kè đất cho khỏi bị sạt lở.
Như vậy, có căn cứ xác định gia đình ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 đã sử dụng đất ổn định, lâu dài; việc UBND huyện S cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 không có chữ ký của các hộ giáp ranh là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T9 quy định về Bản đồ địa chính quy định về xác định ranh giới thửa đất, lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất như sau: “Trước khi đo vẽ chi tiết, cán bộ đo đạc phải phối hợp với người dẫn đạc (là công chức địa chính cấp xã hoặc cán bộ thôn, xóm, ấp, tổ dân phố... để được hỗ trợ, hướng dẫn việc xác định hiện trạng, ranh giới sử dụng đất), cùng với người sử dụng, quản lý đất liên quan tiến hành xác định ranh giới, mốc giới thửa đất trên thực địa, đánh dấu các đỉnh thửa đất bằng đinh sắt, vạch sơn, cọc bê tông, cọc gỗ và lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất để làm căn cứ thực hiện đo đạc ranh giới”, UBND xã H không thực hiện “niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày...” Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và thời điểm cấp phần diện tích đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L nhưng UBND
12
huyện S vẫn tiến hành cấp GCNQSDĐ số BO 699468 cho hộ ông Đinh Công T2 và bà Phạm Thị T3 là cấp chồng, không đúng quy định của pháp luật.
Đối với 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 492796, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² và GCNQSDĐ số AL 492803 thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 395m² do UBND huyện S cấp cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L ngày 24/4/2009 được thể hiện tại bản đồ, sổ mục kê, sổ địa chính của UBND xã H. Tuy nhiên, tại thời điểm cấp GCNQSDĐ, ông T4 và bà L không phải là người thực tế sử dụng phần diện tích đất 244,4m².
Như vậy, ông T4, bà L được cấp GCNQSDĐ năm 1999 và cấp đổi năm 2009 nhưng đều không phải là người trực tiếp sử dụng đất. Thời điểm cấp GCNQSDĐ năm 1999, cấp đổi, cấp lại năm 2009 của hộ ông T4, bà L thì hộ ông T4, bà T3 là người trực tiếp sử dụng diện tích đất và có cây trồng trên đất, có giếng nước. Tuy nhiên, khi cấp GCNQSDĐ không có ý kiến của hộ ông T4, bà T3 là không đúng quy định pháp luật.
[2.3]. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện S cung cấp các tài liệu hồ sơ cấp GCNQSDĐ số I 599646, số vào sổ 0144, thửa đất số 245, tờ bản đồ số 46, diện tích 4.480m² do Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 29/3/1999 cho ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L. Tuy nhiên, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện S không còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến hồ sơ cấp GCNQSDĐ lần đầu số phát hành I 599646, số vào số 0144, cấp ngày 29/3/1999 cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L nên không có tài liệu, chứng cứ để xem xét trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu của UBND huyện S cho hộ ông T4, bà L.
[2.4]. Đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46 đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số L 599749 ngày 29/3/1999 cho hộ bà Vũ Thị H1, địa chỉ: xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (GCNQSDĐ có 08 thửa đất trong đó có thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 265m²). Theo GCNQSDĐ số I 599646, cấp ngày 29/3/1999 cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L có 14 thửa đất trong đó thể hiện hộ ông Nguyễn Trung T4 được cấp thửa số 254, tờ bản đồ số 46, diện tích 130m² và hộ ông Nguyễn Trung T4 không được cấp thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46. Tại đơn xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Trung T4 ngày 27/4/2006 ghi nguồn gốc sử dụng đất “HTX giao”, lý do xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ: “sau dồn điền đổi thửa”. Như vậy nguồn gốc đất mâu thuẫn với lời khai của bà Phạm Thị L là do gia đình khai phá. Ngày 24/4/2009, hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L đã được cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ số AL 492803, thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 395m². Như vậy thửa đất số 253 của hộ bà Vũ Thị H1 đã được cấp gộp vào GCNQSDĐ số AL 492803 ngày 24/4/2009 của ông T4, bà L nhưng hồ sơ cấp đổi, cấp lại của UBND huyện S không có tài liệu thể hiện việc dồn điền đổi thửa, lý do cấp gộp 02 thửa đất số 253 và 254 (hai loại đất khác nhau) cho hộ ông T4, bà L. Đồng thời, khi UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số AL 492803 ngày 24/4/2009 cho hộ ông Nguyễn Trung T4 và bà Phạm Thị L, thửa đất số 253, tờ bản đồ số
13
46, diện tích 395m² thì thời điểm đó bà Vũ Thị H1 đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số L 599749 ngày 29/3/1999, GCNQSDĐ của bà H1 chưa bị thu hồi, hủy bỏ nên việc cấp GCNQSDĐ cho ông T4, bà L là cấp chồng, không đúng quy định của pháp luật.
Đối với GCNQSDĐ số L 599749 của UBND huyện S cấp ngày 29/3/1999 cho hộ bà Vũ Thị H1, địa chỉ: xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đối với 08 thửa đất, trong đó có thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 265m². Tuy nhiên, bà Vũ Thị H1 đã thực hiện các thủ tục đính chính và đã được đính chính. Tại phần những thay đổi sau khi cấp giấy ngày 13/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện S thể hiện: “Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 46, diện tích 265m² đất trồng lúa. Đã dồn điền đổi thửa theo phương án năm 2003. Các thửa đất nông nghiệp tiếp tục sử dụng đất đến tháng 11/2066”. GCNQSDĐ của bà H1 đã được đính chính, các đương sự nhất trí và không có ý kiến gì, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[3]. Như vậy, trên cùng một diện tích đất UBND huyện S đã cấp các GCNQSDĐ số AL 492796, số AL 492803 cùng ngày 24/4/2009 cho hộ ông T4, bà L và GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 cấp cho hộ ông T4, bà T3 là không đảm bảo quy định pháp luật nên cần phải hủy các GCNQSDĐ nêu trên. Do đó, người khởi kiện bà Phạm Thị L đề nghị huỷ GCNQSDĐ số BO 699468 ngày 17/7/2015 cấp cho hộ ông T4, bà T3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đề nghị hủy GCNQSDĐ số AL 492796 và GCNQSDĐ số AL 492803 ngày 24/4/2009 cấp cho hộ ông T4, bà L là có căn cứ.
[4]. Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của người khởi kiện bà Phạm Thị L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
[5]. Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Phạm Thị L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, bà Phạm Thị L là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Phạm Thị L; Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2022/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Về án phí: Bà Phạm Thị L được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
14
3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hải |
15
Bản án số 913/2023/HC-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 913/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NKK: Phạm Thị L; NBK: UBND huyện S, tỉnh Tuyên Quang vụ án "Khiếu kiện quyết định hành chính"
