|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 912/2024/DS-PT Ngày 24 - 10 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Hoàng Minh Thịnh |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Phạm Công Mười |
|
Ông Vũ Đức Toàn |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2024/TLPT-
DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6501/2024/QĐ-PT ngày
10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944; HKTT: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Lê Hồng C1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)
Người bảo vệ quyền, nghĩa vụ của ông Lê Hồng C1: Ông Trịnh Thanh N, là
Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1; Địa chỉ: Số A, đường P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1942; Địa chỉ: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1958; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1947; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Ông Phạm Đồng T3, sinh năm 1961; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G,
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thanh T, Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã G (xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T1, chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Phan T2, chức vụ Giám đốc Phòng G – Chi nhánh B2 (Văn bản ủy quyền số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022) (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C2, bà Nguyễn Thị Q và chị Lê Thị Hồng D: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944; Địa chỉ: khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Các văn bản ủy quyền ngày 05 và 06/9/2022) (có mặt)
2
tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Bà Dương Thị D1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Chị Lê Thị Hồng D, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Ông Trần Văn V, sinh năm 1947; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt)
- Anh Phạm Hoàng N2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Anh Phạm Hoàng T4, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Ông Phan Hiểu N3, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Bà Đặng Kim B, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)
- Anh Phan Tấn V1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
- Em Phan Quốc H, sinh năm 2008; Địa chỉ: Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị D1 và chị Lê Thị Hồng D: Ông Lê Hồng C1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Văn bản ủy quyền ngày 07/11/2022) (có mặt)
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo các đơn yêu cầu và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà
Nguyễn Thị C trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Đào Thị B1 (là mẹ bà Nguyễn Thị C), có
chứng cứ là chứng thư quyền sở hữu do chế độ cũ cấp năm 1971 với diện tích được
cấp là 1,5ha tại thửa số 0058M, tờ thứ 2A. Sau khi được cấp đất, gia đình bà C quản
lý sử dụng nhưng không cất nhà. Đến năm 1984, ông C1 lấn chiếm, sau đó gia đình
bà khiếu nại liên tục tại địa phương. Ông C1 có cất nhà ở sau đó dỡ nhà đi để đất
trống nên gia đình bà vào cất nhà ở, quản lý sử dụng từ năm 2005 và tranh chấp với
ông C1 từ đó đến nay. Quá trình sử dụng đất, bà Ba K cầm cố hoặc sang nhượng
cho ông T6 và cũng không bị Nhà nước thu hồi đất. Năm 1986, bà B1 có cho vợ
chồng ông T3, bà Đ mượn đất cất nhà ở đến nay.
Bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án công nhận cho bà C quyền sử dụng các phần
đất có tổng diện tích 2.053,7m² gồm diện tích 1.578,4m² tại thửa 51, diện tích
299,8m² tại thửa 74, diện tích 175,5m² tại thửa 135, cùng tờ bản đồ 67, các phần
đất tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu và yêu cầu hủy các giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Hồng C1 đứng tên liên quan đến các phần
đất tranh chấp.
- Theo bị đơn ông Lê Hồng C1 trình bày:
Nguồn gốc đất của bà Đào Thị B1 nhưng bà B1 đã bán (chuyển nhượng) lại
cho ông T6, khi chuyển nhượng có làm Tờ sang nhượng đất canh tác ngày
31/01/1974. Sau đó, ngày 12/4/1979 vợ chồng ông T6 xin hiến đất vào tập đoàn
sản xuất nông nghiệp. Ông T6 trốn đi vượt biên bị bắt nên tập đoàn giao diện tích
đất này lại cho ông Nguyễn Văn L - Trưởng ban N6 thời bấy giờ quản lý. Đến khi
ông C1 về năm 1982, Ủy ban nhân dân thị trấn G và ông Nguyễn Văn L xem xét cấp
đất cho ông C1 ở ổn định, đến năm 2010 ông C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Ông C1 cung cấp người làm chứng là ông Lâm Tường H1, ông Lý S và
ông Nguyễn Văn L (Tư Lực) nhưng những người này đều không hợp tác.
4
Năm 1982, khi được cấp đất, ông C1 cất nhà cây gỗ để ở. Đến năm 1990,
ông Dương Văn A là em vợ ông C1 ở, hiện nay không biết ông A đang ở đâu. Sau
đó, ông A dỡ nhà trả đất lại cho ông C1, vì không có nhu cầu sử dụng nên ông C1
cũng để đất trống không sử dụng. Năm 1988, ông C1 có cho vợ chồng ông T3, bà
Đ cất nhà ở đến nay.
Ông C1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà C vì đất tranh chấp là của
ông được Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đồng T3 và bà Nguyễn Thị
Đ trình bày: Năm 1986, gia đình vợ chồng ông bà được ông Nguyễn Văn T5 (anh
trai của bà C) cho mượn đất cất nhà ở. Đến năm 2011, bà C đồng ý cho bà Đ, ông T3
diện tích đất ông bà đang quản lý, sử dụng, việc bà C cho đất vợ chồng ông bà có
làm giấy viết tay nhưng không có xác nhận chính quyền địa phương chỉ có bà C ký
tên, hiện đang nộp cho Công an. Nay ông bà có nguyện vọng được tiếp tục ở trên
phần đất này. Từ khi ở đến nay ông bà không biết việc hộ ông Lê Hồng C1 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã G,
tỉnh Bạc Liêu xác định (Theo Công văn số 1178/UBND ngày 09/10/2023 của Ủy
ban nhân dân thị xã G và Bản tự khai ngày 02/6/2021 của đại diện theo ủy quyền
của Ủy ban nhân dân thị xã G): Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Lê Hồng C1 là chưa đúng quy định nên đồng ý hủy các Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê Hồng Chống đối V2 03 thửa đất tranh chấp và sẽ
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi Tòa án giải quyết các phần đất trên
thuộc về ai và khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
- Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ1 do người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Phan T2 trình bày (Biên bản
lấy lời khai ngày 12/10/2022 – BL 373): Ngày 10/01/2013, Doanh nghiệp Tư nhân
H2, bà Dương Thị D1, ông Lê Hồng C1 vay của NGân hàng số tiền 2.200.000.000 đồng,
đã trả 01 phần vốn nên đến ngày 18/9/2020 còn nợ lại 2.102.700.000 đồng. Để
5
đảm bảo các khoản vay có thế chấp các phần đất gồm: diện tích 1.578,4m² thửa số
51, diện tích 299,8m² thửa số 74, diện tích 175,5m² thửa số 135 cùng tờ bản đồ 67,
đất tọa lạc tại Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đã cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Hồng C1. Vụ việc đã được giải quyết bởi Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2020/QÐST-KDTM ngày
28/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai. Quyết định đã có hiệu lực pháp luật,
cơ quan Thi hành án đã ban hành Quyết định thi hành án số 27/QĐ-CCTHADS
ngày 06/11/2020 nhưng ông C1 chưa trả các khoản nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân
hàng yêu cầu tiếp thi hành quyết định trên để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
Căn cứ Căn cứ Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100; Điều 203 Luật
Đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 107; khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự
năm 2015;
1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.053,7m² (gồm: diện tích 1.578,4m² thửa số 51,
diện tích 299,8m² thửa số 74, diện tích 175,5m² thửa số 135 cùng tờ bản đồ 67),
đất tọa lạc tại Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo như
sau:
- - Hướng Đông giáp đất ông Trần Văn V, bà Thái Thị N4, có số đo các cạnh 10,29m + 37,70m + 5,47m + 24,22m + 0,91m.
- - Hướng Tây giáp đất ông Trần Văn V, ông Dương Tiến D2, có số đo các cạnh 7,03m + 48,82m;
- - Hướng Nam giáp đất đường bê tông, có số đo 23,84m;
- - Hướng Bắc giáp đất ông Dương Tiến D2, bà Nguyễn Thị Thiên L1, ông Trần Minh N5, có số đo các cạnh 15,66m + 12,37m + 6,54m.
6
2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đòi hủy các
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 934085, BB 934086, BB 934065, cùng
ngày 11/6/2010 do Ủy ban nhân dân huyện G (nay là thị xã G) cấp cho hộ ông Lê
Hồng C1 tại các thửa số 51,74,135 cùng tờ bản đồ số 67.
(Phần đất có tổng diện tích 2.053,7m² có số đo và tứ cạnh cụ thể theo mục 1
của phần Quyết định này)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/01/2024, bà Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị C trình bày vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm giải quyết vụ
án:
- - Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi,
tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
định như sau:
[1] Về nguồn gốc đất, theo hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C cho
rằng phần diện tích đất tranh chấp 2.053,7m² nằm trong tổng diện tích đất 1,5ha
cụ Đào Thị B1 (mẹ bà C) được chính quyền chế độ cũ cấp chứng thư sở hữu năm
7
1971.
Bị đơn ông Lê Hồng C1 cũng thừa nhận đất có nguồn gốc của cụ Đào Thị B1
nhưng cho rằng cụ B1 đã nhượng lại cho vợ chồng ông Đỗ Tấn T6, bà Nguyễn
Ngọc L2; năm 1979, ông T6, bà L2 xin hiến đất vào Tập đoàn N7; sau đó Tập đoàn
giao lại diện tích đất trên cho ông Nguyễn Văn L quản lý; năm 1982, UBND thị
trấn G và ông Nguyễn Văn L xem xét cấp phần diện tích đất trên cho ông. Để
chứng minh, ông C1 cung cấp “Tờ nhượng đất canh tác” của cụ Đào Thị B1 sang
cho bà Nguyễn Ngọc L2; “Đơn xin tình nguyện vào Tập đoàn sản xuất nông
nghiệp” ngày 12/4/1979 của ông Đỗ Tấn T6, bà Nguyễn Ngọc L2.
Theo Báo cáo xác minh số 31/BC-CABL-PA88 ngày 04/01/2013 của Công
an tỉnh B thì nguồn gốc phần đất tranh chấp của cụ Đào Thị B1, được chính quyền
chế độ cũ cấp chứng thư năm 1971; thời điểm này ông T5 (con cụ B1) có đào đắp
nền nhà trên phần đất ruộng cặp quốc lộ cũ nhưng bỏ trống không cất nhà ở; sau
đó cụ B1 lần lượt sang nhượng phần đất trên cho ông T7, chùa D3, ông Hứa K1,
ông Tư T8 nhưng không rõ diện tích đã bán cho từng người là bao nhiêu; đến
ngày 31/01/1974, cụ B1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Ngọc L2 (vợ của ông Đỗ
Tấn T6) hết số đất còn lại diện tích 6,5 công. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp
có hai phần gồm: phần đất của ông T6 vô tập đoàn, tập đoàn giao cho ông L và
ông L giao lại ông C1 khoảng 1.500m²; phần đất nền ông C1 tự chiếm, trước đây
ông T5 đắp nền để cất nhà ở có diện tích khoảng 603m².
Quá trình khiếu nại tranh chấp quyền sử dụng đất trước đây, phía gia đình
cụ B1 cho rằng trong 6,5 công sang nhượng cho ông T6, bà L2 thì có 3,8 công cụ
Ba chỉ cầm cố chứ không sang nhượng. Quá trình giải quyết tại Tòa án, các con
cụ B1 xác định không có việc cụ B1 sang nhượng 6,5 công đất như ông C1 trình
bày. Thực tế hiện nay phần đất tranh chấp có diện tích không phù hợp với diện
tích cụ B1 và vợ chồng ông T6 thỏa thuận sang nhượng. Tờ nhượng đất do ông C1
cung cấp không thể hiện vị trí thửa đất sang nhượng và hiến vào Tập đoàn nên
không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc như ông C1 trình bày
8
hay không. Ông C1 cho rằng được Tập đoàn phân phối lại phần đất tranh chấp để
sử dụng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện phần diện tích đất
trên do tập đoàn Q1 cũng như việc giao đất của Tập đoàn cho ông C1. Tại phiên
tòa sơ thẩm ngày 08/01/2024, ông C1 trình bày thời điểm năm 1982 ông được cấp
diện tích đất 600m² - không phù hợp với diện tích đất hiện nay đang tranh chấp
(2.053,7m²), cũng như nội dung xác minh trước đây của Công an tỉnh B, Chủ tịch
UBND tỉnh B, Chủ tịch UBND thị xã G (1.500m²).
Các tình tiết, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ còn nhiều mâu thuẫn,
chưa được làm rõ. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ có việc cụ B1 chuyển
nhượng cho ông T6, bà L2 theo tờ sang nhượng ông C1 cung cấp hay không; vị trí
cụ thể phần diện tích ông T6, bà L2 hiến cho Tập đoàn và thực tế Tập đoàn có tiếp
quản phần diện tích đất này hay không; ông C1 được Tập đoàn giao đất theo văn
bản, quyết định nào mà chấp nhận ý kiến trình bày của ông C1 về nguồn gốc đất là
chưa đủ cơ sở.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/10/2023, Ủy ban nhân dân thị xã G
có Văn bản số 1178/UBND ngày 09/10/2023, xác định việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Lê Hồng C1 vào năm 2010 đối với các thửa số 74, 51,
135 chưa đúng quy định pháp luật; thời điểm đó việc tranh chấp giữa gia đình bà
C và ông C1 chưa được cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm; căn cứ vào quyết
định giải quyết tranh chấp của UBND tỉnh để giải quyết khiếu nại nhưng quyết
định này đã bị hủy bỏ, không còn giá trị; phần đất này hiện nay gia đình bà C và
gia đình ông T3 đang sử dụng. Vì vậy, Ủy ban nhân dân thị xã G thống nhất hủy bỏ
03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C1.
Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình bà C và ông Lê Hồng C1 đã được Chủ
tịch UBND huyện G (nay là thị xã G) và Chủ tịch UBND tỉnh B giải quyết bằng
nhiều quyết định hành chính, cụ thể: Ngày 16/11/2007, Chủ tịch UBND huyện G
ban hành Quyết định số 1377/QĐ-UBND với nội dung bác yêu cầu của ông
Nguyễn Văn T5 (đại diện bà Nguyễn Thị C) về việc đòi lại đất; ngày 29/12/2009, Chủ
9
tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 4543/QĐ-UBND giữ y Quyết định số
1377/QĐ-UBND. Ngày 08/7/2015, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định
số 1083/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 4543/QĐ-UBND. Ngày 03/9/2015,
Chủ tịch UBND thị xã G ban hành Quyết định số 1033/QĐ-UBND thu hồi và hủy
bỏ Quyết định số 1377/QĐ-UBND; đồng thời ban hành Quyết định số 1034/QĐ-
UBND thu hồi 02 giấy chứng nhận cấp cho ông Lê Hồng C1. Ngày 04/5/2016, Chủ
tịch UBND thị xã G ban hành Quyết định số 1768/QĐ-UBND với nội dung công
nhận cho bà B1 được sử dụng phần diện tích 617,4m². Ông C1 không đồng ý nên
đã khởi kiện tại Tòa án yêu cầu hủy Quyết định số 1034/QĐ-UBND và Quyết
định số 1768/QĐ-UBND. Tại Bản án hành chính số 17/2016/HC-ST ngày
20/9/2016 của Tòa án nahan dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên hủy 02 quyết định nêu
trên với lý do Chủ tịch UBND thị xã G giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là
không đúng thẩm quyền. Về mặt nội dung, căn cứ trên kết quả xác minh nguồn
gốc đất, quá trình sử dụng đất, Chủ tịch UBND thị xã G và Chủ tịch UBND tỉnh B
xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1 năm 2010 là trái
với quy định pháp luật.
[3] Theo bản vẽ sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp và biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu lập thì hiện nay trên phần đất
tranh chấp có nhà của ông Phạm Đồng T3, bà Nguyễn Thị Đ nằm trên thửa đất số 51
và nhà của bà Nguyễn Thị C nằm trên thửa đất số 135 và một phần thửa đất số 51.
Lời khai của những người làm chứng ông Trần Văn V, ông Lý Văn L3, bà Trương
Thị P xác định biết phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ B1; sau đó cụ thể
năm nào không nhớ, ông C1 về cất nhà trên đất thì các con bà B1 ngăn cản; sau đó
ông C1 ở khoảng 10 năm thì chuyển đi nơi khác. Quá trình giải quyết vụ án, ông
C1 thừa nhận gia đình ông không còn ở tranh chấp từ năm 1990 đến nay; ông
T3, bà Đ cất nhà và sinh sống trên phần đất này từ năm 1986 nhưng ông cho rằng
việc vợ chồng ông T3, bà Đ ở trên đất là do ông cho ở nhờ. Ông T3, bà Đ xác định
ông bà chỉ là người ở nhờ trên đất nhưng ở nhờ trên đất của bà C, không phải ở
trên đất của ông C1. Thực tế quá trình ông C1 xây dựng nhà và ở trên đất đã bị gia
10
đình cụ B1 khiếu nại, tranh chấp liên tục nên không đủ cơ sở xác định việc ông C1
ở trên đất là lâu dài, ổn định, liên tục, ngay tình để làm căn cứ công nhận quyền
sử dụng đất theo quy định.
[4] Trong phần diện tích đất tranh chấp, có một phần diện tích đất
617,4m² gia đình bà C được công nhận theo Quyết định số 1768/QĐ-UBND ngày
04/5/2016 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C1 nhưng
năm 2017 khi tiến hành thực hiện dự án mở đường thì Ban Q2 thực hiện hỗ trợ cho
bà Nguyễn Thị C theo Phương án số 11/PQ-BQLDA ngày 26/10/2017; bà C đã
nhận số tiền bồi thường 981.189.000 đồng. Nhà nước thực hiện bồi thường cho
bà C phần đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C1 nhưng
ông C1 cũng không có ý kiến phản đối, khiếu nại.
Tại Văn bản số 98/TNMT ngày 05/5/2023, Phòng Tài nguyên và Môi
trường UBND thị xã G xác định “tính đến thời điểm hiện nay phần diện tích đất
bà Nguyễn Thị C tranh chấp với ông Lê Hồng C1 Nhà nước chưa ban hành quyết
định thu hồi đất của bà C. Tuy nhiên, thực hiện theo tinh thần Thông báo số
66/TB-UBND ngày 30/5/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đối với phần đất
617,4m² được nêu trong Quyết định số 1768/QĐ-UBND ngày 04/5/2016 của Ủy
ban nhân dân thị xã G, Ủy ban nhân dân thị xã G đã tổ chức khảo sát giá thực tế
thị trường chuyển nhượng tại khu vực đất đang tranh chấp và đã hỗ trợ bằng tiền
cho bà Nguyễn Thị C phần đất 617,4m²”. Phần đất trên Nhà nước bồi thường cho
bà C nhưng thực tế chưa ban hành quyết định thu hồi và tiến hành thu hồi đất theo
quy định. Theo sơ đồ hiện trạng lập ngày 10/7/2023 (căn cứ để giải quyết vụ án)
không thể hiện vị trí phần diện tích 617,4m². Tại biên bản xem xét, thẩm định tại
chỗ ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, đại diện Văn phòng đăng
ký đất đai thị xã G xác định đối với diện tích 617,4m² được giải quyết theo Quyết
định số 1768 có hồ sơ riêng nên hiện nay không định vị thuộc thửa đất số mấy, tờ
bản đồ số mấy, vị trí nào của thửa đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm không xác
minh làm rõ vị trí phần diện tích đất trên; việc giải quyết vụ án liên quan đến phần
diện tích đất Nhà nước đã thu hồi và tiến hành bồi thường nhưng không làm rõ cơ
11
quan có thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp cụ thể này và đưa vào tham gia
tố tụng để giải quyết quyền lợi là có thiếu sót.
[5] Trong quá trình hai bên phát sinh tranh chấp chưa được giải quyết xong,
ông C1 thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp để vay vốn tại
Ngân hàng TMCP Đ1. Ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai ban
hành Quyết định số 01/2020/QÐST-KDTM ngày 28/9/2020 công nhận sự thỏa
thuận giữa bà Dương Thị D1, ông Lê Hồng C1 với Ngân hàng, có nội dung Ngân
hàng được xử lý tài sản đảm bảo gồm các thửa số 51, 74, 135 cùng tờ bản đồ 67,
đất tọa lạc tại Khóm B, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đã cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Hồng C1. Trên phần đất tranh chấp có nhà và tài
sản của bà C, ông T3. Lẽ ra, trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm cần tạm
đình chỉ giải quyết vụ án và có văn bản kiến nghị người có thẩm quyền xem xét
lại đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số
01/2020/QÐST-KDTM để đồng thời giải quyết quyền lợi của các đương sự chung
trong cùng vụ án mới đảm bảo quy định pháp luật; đảm bảo cho việc thi hành án.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc thu thập chứng
cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đầy đủ; đưa thiếu người tham gia tố tụng. Những
thiếu sót trên không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm nên cần hủy bản án sơ thẩm
để xét xử lại theo quy định pháp luật.
[7] Do hủy án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị C.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
12
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử lại theo thủ tục
sơ thẩm.
Án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng khác được giải quyết lại khi Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết lại vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị C không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
13
Bản án số 912/2024/DS-PT ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 912/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 01/2024/DS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
