|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 911/2024/DS-PT Ngày: 28/10/2024 V/v: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
2. Bà Lê Thị Anh Minh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Phan Duy Tuấn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/10/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 657/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, về việc: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 272/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7089/2024/QĐXX-PT ngày 17/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5679/2024/QĐ-PT ngày 07/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Xuân H, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: B H, phường T, Quận G, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thu T, sinh năm 1994 (Giấy ủy quyền ngày 26/02/2024 số công chứng 000902 quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C, Thành phố H).
Địa chỉ: A Chung cư T, số A P, phường T, Quận A, Thành phố H.
- Bị đơn: Công ty TNHH K
Địa chỉ: Lầu G, A N, Phường N, Quận A, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Quan H1 (Giấy ủy quyền số 02/2024/GUQ-Asiana House ngày 22/4/2024)- Xin vắng mặt.
Địa chỉ: 2 L, Phường F, quận B, TP ..
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo hồ sơ thể hiện như sau:
Bà Đoàn Thị Xuân H và Công ty TNHH K (gọi tắt là Công ty K) đã ký kết Hợp đồng dịch vụ và bảo đảm v/v: Mua bán bất động sản tại dự án Khu trung tâm thương mại và căn hộ cao cấp số 0090/A.14.15/HDDVCH/GTVN.SZH.22 ngày 25/6/2022 và các Phụ lục hợp đồng kèm theo, nhằm đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng mua căn hộ mã số A.14.15 thuộc dự án Shizen Home do Công ty TNHH G làm chủ đầu tư, thời hạn dự kiến ký kết hợp đồng mua bán chậm nhất là ngày 26/03/2023.
Theo thông báo của Công ty K, bà H đã thực hiện nghĩa vụ đóng tiền bằng hình thức chuyển khoản cho Công ty K tổng số tiền 1.522.360.341 đồng vào các ngày 04/7/2022, ngày 31/8/2022 và ngày 30/11/2022, (mỗi đợt đóng 507.453.447 đồng).
Ngày 29/03/2023, Chủ đầu tư gửi Thư thông báo số 028/TB-SZH-GTVN/DVKH về việc gia hạn thời gian ký Hợp đồng mua bán do các yếu tố pháp lý của dự án chưa được hoàn thiện.
Việc chậm trễ triển khai dự án kéo dài dẫn đến ảnh hưởng kế hoạch vay vốn, mua nhà ở của bà H, nên ngày 06/7/2023 bà H đã lên văn phòng Công ty K đề nghị thanh lý Hợp đồng.
Ngày 01/8/2023, Công ty K và bà H ký “Biên bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng” số 0090/A.14.15/BBTTCDHD/ASH.SZH. Theo đó, Công ty K phải hoàn trả cho bà H số tiền là: 1.657.217.833 (Một tỷ, sáu trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm mười bảy nghìn, tám trăm ba mươi ba) đồng theo tiến độ:
- Đợt 1: Ngày 15/01/2024 số tiền: 629.659.359 (Sáu trăm hai mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn, ba trăm năm mươi chín) đồng
- Đợt 2: Ngày 15/02/2024 số tiền: 516.073.205 (Năm trăm mười sáu triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn, hai trăm lẻ năm) đồng.
- Đợt 3: Ngày 15/3/2024 số tiền: 511.485.269 (Năm trăm mười một triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, hai trăm sáu mươi chín) đồng.
Ngày 28/12/2023, Công ty K gửi cho bà H Công văn số 38/CV- SZH/DVKH về việc gia hạn thanh toán công nợ của khoản đến hạn Đợt 1 ngày 15/01/2024, gia hạn đến 29/03/2024.
Sau nhiều lần liên hệ yêu cầu Công ty K thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, ngày 02/02/2024, Công ty K chuyển vào tài khoản của bà H 30.000.000 đồng, sau đó không thực hiện thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào cho bà H. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu:
- Buộc Công ty TNHH K thực hiện nghĩa vụ theo Biên bản chấm dứt Hợp đồng số 0090/A.14.15/BBTTCDHD/ASH.SZH ngày 01/8/2023, hoàn trả cho bà H số tiền: 1.657.217.833 đồng.
2
- Buộc Công ty K thanh toán cho bà H phần lãi suất phát sinh (10%/năm) từ ngày đến hạn thanh toán đầu tiên 15/01/2024 cho đến ngày thực tế hoàn tất việc hoàn trả, phần lãi suất tạm tính đến ngày 27/02/2024 là: 18.726.516 đồng.
- Bị đơn là Công ty TNHH K đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; các thông báo yêu cầu giao nộp chứng cứ, về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 272/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố H đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc Công ty TNHH K phải có nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị Xuân H số tiền theo biên bản chấm dứt Hợp đồng số 0090/A.14.15/BBTTCDHD/ASH.SZH ngày 01/8/2023 gồm: Tiền gốc hợp đồng là 1.492.360.341 (Một tỷ, bốn trăm chín mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi nghìn, ba trăm bốn mươi mốt) đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 25/6/2024 là 160.503.185 (Một trăm sáu mươi triệu, năm trăm lẻ ba nghìn, một trăm tám mươi lăm) đồng, tổng cộng: 1.682.863.526 (Một tỷ, sáu trăm tám mươi hai triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi sáu) đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, bị đơn- Công ty TNHH K kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện bị đơn gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt và thay đổi yêu cầu kháng cáo- chỉ đề nghị Hội đồng xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền thanh toán, vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét cấn trừ số tiền 30.000.000 đồng mà bị đơn đã thanh toán vào ngày 02/02/2024.
- Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: chỉ yêu cầu tính lãi đối với số tiền 1.657.217.833 đồng (theo Biên bản thỏa thuận ngày 01/8/2023) từ ngày vi phạm đợt thanh toán cuối cùng cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
3
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Mặc dù yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở, nhưng do tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có sự thay đổi yêu cầu về thời gian tính tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền, bị đơn có trụ sở tại Quận A, nên Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn thực hiện trong hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn có mặt; Đại diện bị đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[3.1] Xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng dịch vụ và bảo đảm v/v: Mua bán bất động sản tại dự án Khu trung tâm thương mại và căn hộ cao cấp số 0090/A.14.15/HDDVCH/GTVN.SZH.22 ngày 25/6/2022, tuy nhiên sau đó hai bên đã ký Biên bản chấm dứt Hợp đồng số 0090/A.14.15/BBTTCDHD/ASH.SZH (Thỏa thuận thanh lý) ngày 01/8/2023. Việc chấm dứt hợp đồng này là theo yêu cầu của nguyên đơn và hai bên đều tự nguyện xác lập, nội dung biên bản không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với khoản 2 Điều 422 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Nội dung thỏa thuận đó là: Công ty K phải hoàn trả cho bà H số tiền là: 1.657.217.833 (Một tỷ, sáu trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm mười bảy nghìn, tám trăm ba mươi ba) đồng, theo tiến độ như sau:
- Đợt 1: Ngày 15/01/2024 số tiền: 629.659.359 đồng
- Đợt 2: Ngày 15/02/2024 số tiền: 516.073.205 đồng.
- Đợt 3: Ngày 15/3/2024 số tiền: 511.485.269 đồng.
[3.2] Sau khi ký biên bản thanh lý, hai bên không có sự thỏa thuận nào khác, do đó Biên bản chấm dứt Hợp đồng số 0090/A.14.15/BBTTCDHD/ASH.SZH (Thỏa thuận thanh lý) ngày 01/8/2023 là sự thỏa thuận và xác nhận cuối cùng của nguyên đơn và bị đơn nên có hiệu lực thực hiện đối với các bên.
4
Xét thấy thời gian thanh toán đợt 1 là ngày 15/01/2024, nhưng đến ngày 02//02/2024 bị đơn chỉ thanh toán được 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng và các đợt thanh toán sau cũng không thực hiện. Như vậy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015, nên phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trả, bằng việc phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự- là 10%/năm.
Xét trước đó- ngày 02/02/2024 bị đơn đã hoàn trả được 30.000.000 đồng, số tiền này sẽ được cấn trừ vào tiền nợ đã chốt ngày 01/8/2023 (1.657.217.833- 30.000.000 đồng = 1627.217.833 đồng). Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn nêu ý kiến tự nguyện chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm trả từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán đợt cuối cùng- 15/3/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm- 25/6/2024 (là 102 ngày).
Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện thay đổi về yêu cầu khởi kiện (cụ thể là yêu cầu về tính lãi). Xét việc thay đổi yêu cầu này của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, đồng thời không trái quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận sửa bản án sơ thẩm. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, Bản án sơ thẩm bị sửa hoàn toàn không do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Do vậy, số tiền lãi là: (10% x 1.627.217.833 đồng x 102)/365 ngày = 45.472.936 đồng. Tổng số tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 1.672.690.769 đồng.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa chấp nhận.
- - Nguyên đơn không phải chịu án phí.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên người kháng cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 147; Khoản 2 Điều 308; b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 280; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
5
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn- Công ty TNHH K;
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 272/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố H:
1.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc Công ty TNHH K hoàn trả cho bà Đoàn Thị Xuân H số tiền 1.672.690.769 (Một tỷ, sáu trăm bảy mươi hai triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, bảy trăm sáu mươi chín) đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.2 Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn phải chịu 62.180.723 (Sáu mươi hai triệu, một trăm tám mươi nghìn, bảy trăm hai mươi ba) đồng.
- - H2 lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.139.165 (Ba mươi mốt triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, một trăm sáu mươi lăm) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0038020 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố H.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Hoàn trả lại cho bị đơn số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu số 0008469 ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố H.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
6
7
Bản án số 911/2024/DS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Số bản án: 911/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo
