|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 911/2024/HS-PT Ngày 25 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Minh Thịnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Chung Văn Kết |
| Bà Bùi Thị Thu |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 248/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn H; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B đường Q, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở trước khi phạm tội: Số A đường N, TDP D, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú hiện nay: Tổ A, khu phố F, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Lê Văn A và bà Nguyễn Thị Kim C; có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-02-2022 đến ngày 18-3-2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn – Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Quảng Khoa T – Luật sư Công ty L2; địa chỉ: Số D đường D, quận B, TP T, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Ông Hồ Ngọc D – Luật sư Văn phòng L3; địa chỉ: Tổ A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa – Có mặt.
Người bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông –Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại:
Ông Đặng Đình T1, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: 1 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa năm 2017, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T xin chủ trương đề nghị UBND tỉnh Đ cho thực hiện dự án nâng cấp mở rộng tỉnh lộ 1 (TL681) đoạn đi qua xã Đ, huyện T theo hình thức BT, đơn vị trúng thầu bỏ tiền ra thi công tuyến đường dự toán khoảng 90 tỷ đồng, sau khi thi công UBND huyện T sẽ thanh toán cho đơn vị thi công bằng 04 lô đất khoảng 21 ha tại địa bàn xã Đ, huyện T, trị giá tương đương với số tiền bỏ ra thi công.
Qua thông tin, bà Trần Thị L biết được chủ trương của UBND huyện T nên bà L chủ động gặp Lê Văn H, là Giám đốc chi nhánh Công ty TNHH X (nay là Công ty cổ phần X, trụ sở chi nhánh tại số A đường N, TDP D, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông), nhờ H lo giúp để cơ quan có thẩm quyền cho Công ty TNHH X1 (gọi tắt là công ty X1), trụ sở tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, do con trai bà L tên là Nguyễn Đình T2 làm Giám đốc trúng thầu thi công dự án, vì H có mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước.
Qua thông tin, H biết UBND huyện T đang có chủ trương xin dự án nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, H nhận lời lo giúp cho Công ty X1 của gia đình bà L trúng thầu dự án với chi phí khoảng 10 tỷ đồng, Bà L phải ứng trước tiền chi phí cho H. H đưa ra cam kết với bà L chậm nhất đến ngày 31-12-2017, công ty X1 của gia đình bà L sẽ được ký hợp đồng thực hiện dự án. Bà L thống nhất và khi nào cần tiền thì H báo cho bà L, bà L sẽ chuyển tiền cho H.
Tin tưởng cam kết của H, trong thời gian từ ngày 20-9-2017 đến ngày 22-12 2017, khi H yêu cầu chuyển tiền, bà L nói Nguyễn Đình T2 chuyển vào tài khoản số 31310000621340 của H 05 lần số tiền 5.900.000.000 đồng. Đến ngày 31-12-2017, Công ty X1 của gia đình bà L chưa được ký hợp đồng BT thì H tiếp tục đưa ra thông tin với bà L dự án bị kéo dài chưa được phê duyệt và tiếp tục yêu cầu bà L đưa tiền để chạy dự án. Từ ngày 22-01-2018 đến ngày 03-5-2018, H tiếp tục yêu cầu bà L chuyển tiền. Bà L nói Nguyễn Đình T2, Nguyễn Đình T3 chuyển vào tài khoản số 31310000621340 của H số tiền 2.500.000.000 đồng, ngoài ra trong thời gian trên bà L còn đưa cho H tiền mặt 3.220.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ. Tổng cộng phía bà L đã chuyển tiền cho H là 11.620.000.000 đồng; trong đó 8.400.000.000 đồng chuyển khoản, 3.220.000.000 đồng đưa tiền mặt.
Cùng với việc ứng tiền, Lê Văn H đã thu thập các tài liệu có thật của các cơ quan chức năng phát hành cung cấp cho bà L. Đến giữa tháng 6 năm 2018 H thông tin cho bà L biết chủ trương đổi đất lấy hạ tầng bị tạm dừng nên H không lo được dự án. Bà L yêu cầu H trả lại tiền. Năm 2018, H đã trả cho bà L 5 lần số tiền 2.400.000.000 đồng, ngày 03-01-2019 tiếp tục trả 500.000.000 đồng (bút lục 2165). Đến khoảng tháng 5 năm 2019 H tiếp tục thông tin cho bà L biết UBND huyện T có chủ trương bán đấu giá 04 lô đất để lấy tiền thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng tỉnh lộ 1, H sẽ lo cho phía bà L trúng đấu giá 04 lô đất chậm nhất đến ngày 30-9-2019, bà L đồng ý (bút lục 1900, 1906, 1912).
Tuy nhiên, sau đó chủ trương bán đấu giá đất không được thực hiện, bà L yêu cầu H trả lại tiền. Từ ngày 18-10-2019 đến ngày 16-12-2019, H trả cho bà L số tiền 4.300.000.000 đồng; từ ngày 17-01-2020 đến ngày 20-11-2020 H trả cho bà L số tiền 900.000.000 đồng; tổng cộng Hòa đã trả cho bà L số tiền 8.100.000.000 đồng (bút lục 1265).
Ngày 30-12-2020, bà Trần Thị L tố cáo Lê Văn H lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 11.620.000.000 đồng và vẫn còn nợ số tiền 6.000.000.000 đồng chưa trả; gửi kèm theo đơn tố cáo là Giấy xác nhận hẹn trả tiền năm 2018 H đã nhận 7.400.000.000 đồng để lo dự án BT; Giấy cam kết đề ngày 24 tháng 6 năm 2019, cam kết cho bà L đấu thầu 04 lô đất; Giấy xác nhận đề ngày 03 tháng 10 năm 2020 H còn thiếu nợ bà L số tiền 6.000.000.000 đồng (bút lục 98, 125, 127). Kết quả giám định kết luận chữ ký trong các tài liệu trên do H viết và ký tên.
Kết quả điều tra, H thừa nhận đã nhận của bà L số tiền 11.620.000.000 đồng. Đến ngày 14-01-2022 số tiền H đã trả cho bà L là 13.770.000.000 đồng, kết thúc điều tra Lê Văn H trả cho bà Trần Thị L số tiền 13.890.000.000 đồng (bút lục 1265-1268).
Số tiền trả chênh lệch 13.890.000.000 - 11.620.000.000 =2.270.000.000₫, ban đầu H khai là tiền bà L yêu cầu tính lãi suất, sau đó H khai lại là vay mượn cá nhân. Ngoài ra bà L và H khai lại trong số tiền 11.620.000.000 đồng thì chi phí cho dự án là 50.000.000 đồng, còn lại là vay mượn cá nhân.
Ngày 17-02-2022, cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lê Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tại Bản kết luận điều tra số 66/KL-ĐT-VPCQCSĐT ngày 26 tháng 9 năm 2022 kết luận Lê Văn H “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bà Trần Thị L số tiền 11.620.000.000 đồng.
Cáo trạng số 57/CT-VKSĐN –P2 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông truy tố Lê Văn H “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bà Trần Thị L số tiền 7.400.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-02-2022 đến ngày 18-3-2022.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 09/01/2024, Bị cáo Lê Văn H có đơn kháng cáo kêu oan vì Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá một cách toàn diện các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, chưa đủ căn cứ buộc tội; Bà L là người biết thông tin có có chủ trương UBND huyện T, tỉnh Đăk Nông thực hiện dự án nâng cấp mở rộng tỉnh lộ 1 đoạn đi qua xã Đ và bà L nhờ bị cáo lo thủ tục hồ sơ được nhận dự án thì bà L đưa cho bị cáo mộ khoản chi phí và cho vay tiền để làm ăn, bà L chuyển cho bị cáo 5,9 tỷ đồng sau đó chuyển tiếp cho bị cáo vay thêm 02 lần nữa tổng công tất cả là 11.620.000.000 đồng. Sau đó dự án dừng lại không xin được thì bị cáo đã trả cho bà L 8.100.000.000 đồng, đối với giấy xác nhận và hẹn trả 7,4 tỷ đồng trong năm 2018 là bao gồm cả gốc và lãi. Ngoài ra trong số tiền 11.620.000.000 đồng mà bà L chuyển cho bị cáo thì cấp sơ thẩm chưa làm rõ khoản nào là khoản bà L cho vay mượn, khoản nào là khoản lo dự án nhưng số tiền bị cáo trả cho bà L 13.890.000.000 đồng, chênh lệch 2.270.000.000 đồng chưa được làm rõ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm xác định nhưng bị cáo cho rằng trong tổng số hơn 11 tỷ đồng mà bà L chuyển cho bị cáo thì bị cáo chỉ chiếm đoạt 50.000.000 đồng, đây là tiền thỏa thuận để lo dư án còn lại là tiền vay. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm vấn công khai tại phiên toà thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo H dùng thủ đoạn gian dối khi cho rằng có thể xin cho bà L trúng dự án làm đường nhưng thực tế, sau khi bà L chuyển tiền cho bị cáo thì bị cáo không tiến hành bất cứ thủ tục gì để xin dự án mà chiếm đoạt luôn số tiền 7,4 tỷ đồng của bà L để tiêu xài cá nhân, trả nợ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174; Bộ luật Hình sự như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo cho rằng khoản tiền 7,4 tỷ đồng là nằm trong số tiền vay mượn giữa bị cáo và bà L nhưng không có căn cứ chứng minh. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị hại có giửi đơn xin giảm án cho bị cáo nhưng thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vì vậy đề nghị bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến khoản tiền 7,4 tỷ đồng. Trong các tài khoản chuyển khoản thì đều ghi là tiền cho mượn. Như vậy tổng số tiền là hơn 13 tỷ đồng là tiền nợ và xác nhận còn lại 7,4 tỷ đồng là khoản tiền nợ sau khi đã trả một phần chứ không phải năm 2018 nhận 7,4 tỷ đồng. Tiếp đến giấy xác nhận sau bị cáo ghi là còn lại chạy dự án 5,7 tỷ đồng. Như vậy cần phải xem xét lại tình tiết này. Trong khi quá trính điều tra sau này thì cả bị cáo và bị hại đều khai thống nhất với nhau là bị cáo được dự án thì bị cáo được cấn cấn trừ khoản nợ 7,4 tỷ đồng này và số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà L chỉ là 50.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thống nhất với phần trình bày bào chữa của luật sư, bị cáo không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn H đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Bị cáo Lê Văn H kháng cáo cho rằng bị cáo chỉ dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của bị hại L số tiền 50.000.000 đồng, khoản tiền 7.400.000.000 đồng là tiền vay mượn làm ăn, không phải tiền chiếm đoạt.
[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng chỉ chiếm đoạt 50.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ căn cứ vào lời khai ban đầu của bị cáo, bị hại cùng toàn bộ các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã thể hiện rõ như sau: Bản thân Lê Văn H không có chức năng, quyền hạn quyết định cho công ty X1 trúng thầu hoặc không trúng thầu dự án nhưng khi được bà Nguyễn Thị L1 đặt vấn đề nhờ Lê Văn H lo cho công ty X1 của gia đình bà L1 trúng thầu thi công dự án thì bị cáo Hòa đồng ý và cam kết “chậm nhất đến ngày 31-12-2017 công ty X1 của gia đình bà L1 sẽ được ký hợp đồng thực hiện dự án” với điều kiện bà L1 phải chuyển tiền cho bị cáo để bị cáo lo cho Công ty X1 trúng thầu. Tổng số tiền bà L1 chuyển cho bị cáo lo chạy dự án là 11.620.000.000 đồng. Thực tế sau khi nhận tiền bị cáo không gặp gỡ ai, không lo bất cứ thủ tục gì để cho công ty X1 trúng thầu, để cho bà L1 tin tưởng thì bị cáo còn đến UBND huyện T, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Đắk Nông, Ban quản lý dự án tỉnh Đ để xin các văn bản, bản đồ, tờ trình...liên quan đến dự án và đưa các tài liệu này cho bà L1 để bà L1 tin tưởng rằng bị cáo lo thủ tục, xin dự án cho Công ty X1. Ngoài ra, số tiền bị cáo nhận của bà L1, cơ quan điều tra đã chứng minh được bị cáo trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đến hạn không nhận được dự án thì bà L1 đòi lại tiền, bị cáo lại tiếp tục đưa ra thông tin gian dối sẽ lo cho bà L1 trúng đấu giá 04 lô đất mà trước đây bị cáo nói nếu thực hiện dự án BT thì UBND huyện T cấp cho 04 thửa đất này, nhưng trên thực tế thì UBND huyện T không có chủ trương đấu thầu 04 lô đất này. Với hành vi nêu trên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn H đưa ra thông tin gian dối lo cho Công ty X1 trúng thầu để chiếm đoạt tiền của bà L1. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[3.2] Quá trình điều tra đã chứng minh được bà L1 chuyển cho bị cáo H (qua tài khoản và tiền mặt) tổng cộng là 11.620.000.000 đồng, lẽ ra cần xác định tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà L1 là 11.620.000.000 đồng vì giữa bị cáo và bị hại không có thỏa thuận về số tiền mà bị cáo nhận để lo dự án cho bị hại mà chỉ thỏa thuận bị hại chuyển tiền cho bị cáo và thực tế bị cáo đã nhận 11.620.000.000 đồng, phù hợp với 01 giấy không có tiêu đề, không ngày tháng năm thể hiện nội dung Hòa nhận 11.620.000.000 đồng, 01 giấy cam kết đề ngày 29/6/2019 nội dung Hòa lo cho bà L1 trúng đấu giá 04 lô đất nếu không lo được H hoàn trả bà L1 10 tỷ đồng. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy xác nhận hẹn trả tiền không đề ngày, không đề tháng, đề năm 2018 cò nội dung Hòa đã nhận 7.400.000.000 đồng để lo dự án BT cho bà L1, từ đó kết luận bị cáo chiếm đoạt của bà L1 7.400.000.000 đồng là có lợi cho bị cáo. Việc bị cáo nại ra rằng cần làm rõ khoản tiền nào là bị cáo lo dự án, khoản tiền nào là bị cáo vay mượn và làm rõ khoản tiền chênh lệch hơn 2 tỷ đồng mà bị cáo đã trả cho bà L1. Xét vấn đề này là không cần thiết vì việc Tòa án sơ thẩm kết luận số tiền chiếm đạt 7,4 tỷ đồng là có lợi cho bị cáo, còn các khoản tiền khác thì bị cáo có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự.
[4] Hành vi nêu trên của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, xét nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[5] Quan điểm của đại diện Việm kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông về quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-02-2022 đến ngày 18-3-2022.
2. Bị cáo Lê Văn H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Chung Văn Kết Bùi Thị Thu |
Hoàng Minh T4 |
Bản án số 911/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 911/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông về quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H.
