Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 910/2024/DS-PT

Ngày: 28-10-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Trung

Các Thẩm phán:

  • 1. Ông Vũ Bảo Nguyên
  • 2. Bà Lê Ngọc Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc Sương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/9/2024, 23 và 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 673/2024/TLPT-DS ngày 28/8/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5003/2024/QĐ-PT ngày 30/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14348/2024/QĐ-PT ngày 23/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N

Trụ sở: A T, Phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Chi nhánh: G P, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền:

  • + Ông Trương Minh H;
  • + Bà Nguyễn Thị H1;
  • + Ông Đoàn Duy K;

Địa chỉ: G P, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

  • + Ông Trương Quốc T1;
  • + Bà Lý Chung H4;

Địa chỉ: Lô G Thủ Đức Garden H, B đường số C, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim H2 Địa chỉ: Số D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị S, sinh năm 1947,

    Địa chỉ: tổ D, KP P, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước.

  2. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1964;
  3. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969;
  4. Ông Trần Quốc P, sinh năm 1994;
  5. Bà Lê Thị Như T2, sinh năm 2002;
  6. Bà Hoàng Nữ Quỳnh T3, sinh năm 1999;
  7. Ông Trương Hữu V, sinh năm 1970;
  8. Ông Hoàng Đức U, sinh năm 2004;
  9. Ông Phan Văn Bé B1, sinh năm 1977;
  10. Bà Đặng Thị P1, sinh năm 1981;
  11. Bà Phan Thị Xuân M, sinh năm 2005;
  12. Ông Phan Quốc L, sinh năm 2009;
  13. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1977;
  14. Bà Trần Khánh L1, sinh năm2003;

Cùng địa chỉ: nhà không số, khu D, Khu phố E, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 và bà Lê Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn trình bày như sau:

Ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4 (nay viết tắt là ông T1, bà H4) có vay vốn tại Ngân hàng TMCP N (nay viết tắt là V1) theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021. Mục đích vay vốn là: Thanh toán một phần tiền mua nhà ở và đất ở tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Ông Tuệ C sử dụng 01 thẻ tín dụng quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS0370600097, hạn mức sử dụng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Bà H4 Sử dụng 01 thẻ tín dung quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS03708585676, hạn mức sử dụng là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liến với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . do Ông T1 và Bà H4 sở hữu (Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 184716, số vào sổ cấp GCN: CS21955 do Sở T7 cấp ngày 29/10/2021). Bên cạnh đó, khoản vay này còn được đảm bảo bởi tài sản là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 17-450 Tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, Địa chỉ: Phường H, Quận T (nay là TP .), TP . do bà Lê Thị S sở hữu (Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số G 977239, số vào sổ cấp GCN: 00005/1B QSDĐ/186/UB do U1 cấp ngày 19/02/1998).

Trong quá trình vay vốn tại V1, từ tháng 03/2023 khách hàng gặp khó khăn về tài chính do thu nhập giảm sút dẫn đến tình trạng thường xuyên chậm thanh toán các khoản vay tại V1 (trễ hạn dưới 10 ngày). Cụ thể, đến ngày 16/10/2023, khoản vay của ông T1, bà H4 đã chuyển nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý do quá hạn từ 10 đến dưới 90 ngày).

Tính đến hết ngày 23/10/2023, các khoản nợ vay của ông T1, bà H4 theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021 bao gồm trong đó: Tổng Nợ gốc: 10.603.599.921 đồng; Lãi quá hạn: 123.550.566 đồng; Lãi phạt: 126.597 đồng.

Tính đến hết ngày 23/10/2023, các khoản nợ gốc, nợ lãi và lãi phạt (tạm tính) của thẻ tín dụng quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS0370600097 (do Ông T1 sử đụng) bao gồm trong đó: Nợ gốc: 482.491.470 đồng; Nợ lãi: 13.273.224 đồng; Lãi phạt: 873.053 đồng; Nợ phí thường niên: 3.000.000 đồng.

Tính đến hết ngày 23/10/2023, các khoản nợ gốc, nợ lãi và lãi phạt (tạm tính) của thẻ tín dụng quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS03708585676 (do Bà H4 sử dụng) bao gồm trong đó: Nợ gốc: 298.855.759 đồng; Nợ lãi: 6.877.711 đồng; Lãi phạt: 179.313 đồng và nợ phí thường niên: 3.000.000 đồng.

Ngày 25/9/2023, khách hàng đã cam kết với V1 về bảo đảm để tất toán nợ vay bằng văn bản. Từ ngày 05/10/2023 (kỳ sao kê gốc và lãi khoản vay hàng tháng) cho đến nay, ông T1, bà H4 đã không thanh toán gốc, lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021. Đến ngày 16/10/2023, V1 đã phân loại nợ là nợ nhóm 2 theo quy định.

Hiện tại, toàn bộ khoản vay của ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4 đều đã quá hạn, V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  1. T5 buộc ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số tiền bao gồm:

    Tính đến hết ngày 23/4/2024, các khoản nợ vay của ông T1, bà H4 theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021 bao gồm trong đó: Tổng nợ gốc: 10.603.599.921 đồng; Lãi quá hạn: 621.483.998 đồng; Lãi phạt: 4.691.426 đồng.

    Tính đến hết ngày 23/4/2024, các khoản nợ gốc, nợ lãi và lãi phạt của thẻ tín dụng quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS0370600097 (do Ông Trương Quốc T1 sử đụng) bao gồm trong đó: Nợ gốc: 482.491.470 đồng; Nợ lãi: 45.581.105 đồng; Lãi phạt: 12.649.351 đồng; Nợ phí thường niên: 3.000.000 đồng.

    Tính đến hết ngày 23/4/2024, các khoản nợ gốc, nợ lãi và lãi phạt của thẻ tín dụng quốc tế Visa, số tài khoản thẻ là VS03708585676 (do Bà Lý Chung H4 sử dụng) bao gồm trong đó: Nợ gốc: 298.855.759 đồng; Nợ lãi: 28.038.122 đồng; Lãi phạt: 9.778.004 đồng; Nợ phí thường niên: 3.000.000 đồng.

  2. Trong trường hợp Ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4 không trả được nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tóa án có hiệu lực thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . (Chủ sở hữu là Ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0622/VCBTDN/KHBL/21 ngày 02/11/2021 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T (Chủ sở hữu là bà Lê Thị S) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0045A/VCBTDN/KHBL/22 ngày 13/4/2023 theo quy định của Pháp luật để thu hồi toàn bộ khoản nợ theo quy định của pháp luật.

* Tại cấp sơ thẩm, các đương sự còn lại trong vụ án không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguên đơn.

* Tại Bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 25/4/2024, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N:
    1. Buộc ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tính đến ngày 23/4/2024 là 12.113.169.156 đồng.

      Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    2. Kể từ ngày 24/4/2024 ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 kiêm hợp đồng số tài khoản thẻ là VS0370600097 ngày 16/11/2020 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 kiêm hợp đồng số tài khoản thẻ là VS03708585676 ngày 21/8/2023 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
    3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là:

      Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0622/VCBTDN/KHBL/21 ngày 02/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/11/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ.

      Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0045A/VCBTDN/KHBL/22 ngày 13/04/2023, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố T và Bản đồ hiện trạng vị trí được kiểm tra ngày 01/03/2024 đối với thửa đất số 17-450 tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T tọa lạc tại Phường H, Thành phố T.

    4. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo các tài sản nêu trên mà vẫn chưa đủ trả khoản nợ trên thì ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 phải tiếp tục trả số tiền chưa được thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo.

* Nội dung kháng cáo: Người kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng cấp sơ thẩm không tiến hành định giá lại tài sản thế chấp là xâm phạm quyền lợi của ông T1, bà H4 và bà S.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày: Ngày 09/7/2924, bị đơn đã thanh toán hết nợ thẻ tín dụng số tiền là 923.373.973 đồng và một phần nợ gốc của khoản vay số tiền là 253.269.077 đồng, Ngân hàng đã giải chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T đứng tên bà Lê Thị S. Theo đó, tính đến ngày 23/10/2024, bị đơn còn nợ các khoản gốc, lãi vay đã quá hạn (tạm tính) theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021 tổng số tiền là 11.456.088.239 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 10.350.330.844 đồng, lãi khoản vay quá hạn: 1.093.271.147 đồng, lãi chậm trả tính trên dự nợ gốc đã quá hạn: 12.486.248 đồng. Do đó, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bị đơn đã trả là 1.176.643.050 đồng, rút đề nghị xem xét đối với tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T đứng tên bà Lê Thị S. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán số nợ còn lại ngay khi bản án có hiệu lực, trường hợp bị đơn không thanh toán thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . để ngân hàng thu hồi nợ, nếu tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì bị đơn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho ngân hàng.

Ông T1 trình bày: Ngày 09/7/2024, tôi đã thanh toán hết nợ thẻ tín dụng số tiền là 923.373.973 đồng và một phần nợ gốc của khoản vay số tiền là 253.269.077 đồng, Ngân hàng đã giải chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T đứng tên bà Lê Thị S. Ông T1 đồng ý việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền mà ông đã trả và rút nội dung xem xét tài sản bảo đảm đứng tên bà Lê Thị S. Tuy nhiên, theo ông T1, hiện nay, bà S không còn liên quan đến vụ án này nữa nên ông T1 đề nghị Tòa án đưa bà S ra khỏi vụ án; đồng thời, cấp sơ thẩm không tiến hành định giá lại tài sản bảo đảm là ảnh hưởng quyền lợi của bị đơn, ngoài ra, cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ không đúng quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử vụ án. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Ngày 09/7/2024, bị đơn đã thanh toán hết nợ thẻ tín dụng số tiền là 923.373.973 đồng và một phần nợ gốc của khoản vay số tiền là 253.269.077 đồng, Ngân hàng đã giải chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T đứng tên bà Lê Thị S. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu. Do đó, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng: Hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn yêu cầu kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định nên hợp lệ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Lý Chung H4, bà Nguyễn Thị Kim H2, bà Lê Thị S, ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị B, ông Trần Quốc P, bà Lê Thị Như T2, bà Hoàng Nữ Quỳnh T3, ông Trương Hữu V, ông Hoàng Đức U, ông Phan Văn Bé B1, bà Đặng Thị P1, bà Phan Thị Xuân M, ông Phan Quốc L, bà Nguyễn Thị T4, bà Trần Khánh L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa mà vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

Bà Lý Chung H4 và bà Trần Thị S1 là người kháng cáo mà vắng mặt lần thứ hai không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo, nên căn cứ điểm d khoản 1 Điều 289, Điều 295 và Khoản 3 Điều 296 Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1]

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và được bị đơn đồng ý, đối với số tiền bị đơn đã trả là 1.176.643.050 đồng, rút đề nghị xem xét đối với tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T đứng tên bà Lê Thị S. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nội dung này.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn:

[2.2.1] Về dư nợ theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021, Giấy nhận nợ số 01 ngày 03/11/2021 và bảng kê nợ gốc, lãi vay đã quá hạn của Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO tính đến ngày 23/10/2024, bị đơn còn nợ các khoản gốc, lãi vay đã quá hạn (tạm tính) theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021 tổng số tiền là 11.456.088.239 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 10.350.330.844 đồng, lãi khoản vay quá hạn: 1.093.271.147 đồng, lãi chậm trả tính trên dự nợ gốc đã quá hạn: 12.486.248 đồng.

Tại khoản 9.2 Điều 9 của Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021 thỏa thuận quy định về trả lãi trên dư nợ gốc trong hạn, trả lãi trên Dư nợ gốc bị Quá hạn, trả lãi chậm trả và quy định về mức lãi suất áp dụng đối với Dư nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn quy định kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi khách hàng trả hết Dư nợ gốc bị quá hạn.

Tại Thông báo về việc nợ quá hạn ngày 16/10/2023, Biên bản làm việc ngày 25/9/2023, 16/10/2023 thể hiện ông T1, bà H4 vi phạm nghĩa vụ thanh toán chuyển sang quá hạn (nhóm 2) từ sau ngày 15/10/2023.

Tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng", ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Vì Ngân hàng có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng nên nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ để tính lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.

Xét, do ông T1, bà H4 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông T1, bà H4 trả tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021, Giấy nhận nợ số 01 ngày 03/11/2021 là có cơ sở.

[2.2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0622/VCBTDN/KHBL/21 ngày 02/11/2021, có nội dung: bên thế chấp là ông T1, bà H4 dùng Tài sản thế chấp là Quyền quyền sử dụng đất và tất cả các tài sản gắn liền với thửa đất, tất cả các quyền, lợi ích liên quan đến thửa đất số 9 tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DS184716, số vào sổ cấp GCN: CS21955 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 29/10/2021 để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại, các loại phí, lệ phí và các khoản bồi hoàn, phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021 và tất cả các Hợp đồng cấp tín dụng kể từ ngày ký hợp đồng.

Xét thấy Hợp đồng thế chấp nêu trên đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 293, Điều 295, Điều 298 Bộ luật Dân sự nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại Kết quả xác minh của Công an P2, Quận D cho biết tại địa chỉ 874/25/10 Đoàn Văn B2 bỏ trống, không có ai cư ngụ từ năm 2019 đến nay.

Xét, theo quy định trên thì khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ theo các hợp đồng tín dụng mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0622/VCBTDN/KHBL/21 ngày 02/11/2021 là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 299, khoản 6 Điều 320 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ phân tích trên, thấy bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp. Người kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm không định giá tài sản thế chấp và thực hiện thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ không đúng quy định nhưng không nêu được cơ sở pháp lý và không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.2.3] Về án phí sơ thẩm:

Do đình chỉ một phần yêu cầu do nguyên đơn rút đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu còn lại của nguyên đơn, căn cứ Khoản 2 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc nhận thấy cần giữ nguyên án phí sơ thẩm.

Từ phân tích trên, nhận thấy, do phát sinh tình tiết mới nên cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy một phần bản án sơ thẩm; đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với phần nghĩa vụ mà bị đơn đã thực hiện, chấp nhận yêu cầu còn lại của nguyên đơn đối với phần nghĩa vụ bị đơn chưa thực hiện.

[2.3] Về án phí phúc thẩm:

Do đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bà Lý Chung H4 và bà Lê Thị S. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của bà Lý Chung H4. Riêng bà Lê Thị S là người cao tuổi và có đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí nên được miễn tạm ứng án phí, án phí dân sự phúc thẩm.

Do sửa bản án sơ thẩm nên ông Trương Quốc T1 không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ căn cứ điểm d khoản 1 Điều 289, Điều 295 và Khoản 3 Điều 296, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lý Chung H4 và bà Lê Thị S.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Quốc T1; Sửa Bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, cụ thể:

  1. Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, cụ thể:
    1. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về buộc ông Trương Quốc T1 và bà Lý Chung H4 trả số tiền 1.176.643.050 đồng, trong đó gồm:
      • 923.373.973 đồng: Nợ gốc, lãi của T6 tín dụng quốc tế Visa số tài khoản thẻ là VS0370600097 và T6 tín dụng quốc tế Visa số tài khoản thẻ là VS03708585676.
      • 253.269.077 đồng: Nợ gốc của Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021.
    2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu xem xét tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 17450, tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T, địa chỉ: Phường H, Quận T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0045A/VCBTDN/KHBL/22 ngày 13/04/2023, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố T và Bản đồ hiện trạng vị trí được kiểm tra ngày 01/03/2024 đối với thửa đất số 17-450 tờ bản đồ số 3 Hiệp Bình T tọa lạc tại Phường H, Thành phố T.
  3. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N:
    1. Buộc ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N theo Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/05/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021, Giấy nhận nợ số 01 ngày 03/11/2021 số tiền tính đến ngày 23/10/2024 là 11.456.088.239 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 10.350.330.844 đồng, lãi khoản vay quá hạn: 1.093.271.147 đồng, lãi chậm trả tính trên dự nợ gốc đã quá hạn: 12.486.248 đồng.

      Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    2. Kể từ ngày 24/10/2024 ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng cho vay số 0622/KHBL/21CN/NO ký ngày 20/5/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 622/KHBL/21CN/NO/SĐ1 ký ngày 02/11/2021 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
    3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ 8 Đ, Phường A, Quận D, TP . theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0622/VCBTDN/KHBL/21 ngày 02/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/11/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ.
    4. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo các tài sản nêu trên mà vẫn chưa đủ trả khoản nợ trên thì ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 phải tiếp tục trả số tiền chưa được thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trương Quốc T1, bà Lý Chung H4 chịu án phí là 120.113.169 đồng.

    Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 59.764.914 đồng theo biên lai thu số 0002301 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về án phí phúc thẩm:

    Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí bà Lý Chung H4 đã nộp theo Biên lai số 0021208 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.

    Bà Lê Thị S được miễn tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm.

    H5 lại cho ông Trương Quốc T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo các biên lai số 0021207 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.

  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Tòa án nhân dân Quận 3;
  • - Chi cục THADS Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tôn Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 910/2024/DS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 910/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger