|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 "V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đình Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hoàng L, sinh ngày 23/8/1996; CCCD số: [...], cấp ngày: 28/6/2023, nơi cấp: Cục C về TTXH; Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh ngày 12/10/1981; CCCD số: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 09/4/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị Hoàng L trình bày:
Chị Lê Thị Hoàng L và anh Lê Văn T tự do tìm hiểu, quen biết, chung sống với nhau có đăng ký kết hôn; cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ chồng ở thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi vã; anh T nhiều lần đánh đập, nên chị L bỏ về sinh sống với bố mẹ mình ở thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay, anh T cũng thiếu sự quan tâm khi chị sinh con, từ năm 2019 đến nay anh T bỏ mặc vợ con, không có nghĩa vụ vợ chồng, nên tình trạng mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Lê Kim Môi K, sinh ngày 07/10/2017. Hiện đang sinh sống với chị, nên chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K cho đến lúc thành niên và chị không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Lê Văn T, mặt dù đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh T không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 10/7/2024, Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh T không đến, tiếp đó ngày 18/7/2024 Tòa án đã tống đạt Quyết định hõan phiên tòa và ấn định lại thời gian địa điểm xét xử, nhưng anh T vẫn tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Lê Thị Hoàng L và anh Lê Văn T kết hôn hợp pháp.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị Lê Thị Hoàng L được ly hôn với anh Lê Văn T; quá trình chung sống có hai người có một con chung là cháu Lê Kim Môi K, sinh ngày 07/10/2017. Cháu K đang sinh sống ổn định với chị L, nên tiếp tục giao cháu K cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc thành niên. Tại lời khai chị L không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không xét. Án phí ly hôn chị L phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Lê Văn T có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hoàng L và anh Lê Văn T kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/8/2016. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:
Chị L yêu cầu ly hôn với anh T do vợ chồng không hợp về tình cách, quan điểm trong cuộc sống. Sau khi nảy sinh mâu thuẫn chị L bỏ về nhà bố mẹ sinh sống từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay, anh T bỏ mặc vợ con, không có nghĩa vụ vợ chồng, nên tình trạng mâu thuẫn kéo dài. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần, nhưng anh T cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh đã bỏ mặc, không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, nên tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể hàn gắn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị L được ly hôn với anh T. Như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[4] Về con: Vợ chồng có một con chung là cháu Lê Kim Môi K, sinh ngày 07/10/2017. Hiện cháu K đang sinh sống ổn định với chị L, nên tiếp tục giao cháu K cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc cháu K tròn 18 tuổi. Tại phiên tòa chị L không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét..
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hoàng L. Cho chị Lê Thị Hoàng L được ly hôn với anh Lê Văn T; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Kim Môi K, sinh ngày 07/10/2017 cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc cháu K tròn 18 tuổi. Anh T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Hoàng L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000851 ngày 22-4-2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế về ly hôn
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn với anh T vì mâu thuẫn gia đình
