Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thiện
  2. Bà Lê Hoàng Mỹ Dung;

-Thư ký phiên tòa:Trịnh Văn Ngọc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15/5/2024, về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 135/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 17/7/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1990. Có mặt.
  2. Địa chỉ: Số A đường số A, tổ D, thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Anh Vũ Mạnh H, sinh 1989. Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Số A đường số D, tổ D, thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 8/4/2024, cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày: Chị MVũ Mạnh H kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ. Sau khi cưới vợ chồng vào tỉnh Bình Dương làm ăn. Đến năm 2022, chị M mang thai và trở lại xã V, huyện Đ sinh con; còn anh H vẫn đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng 2- 3 tháng có về thăm con. Khi con được 01 tuổi chị M gửi con cho bà để vào tỉnh Bình Dương làm ăn. Lúc này anh H ngừng liên lạc với chị M, không quan tâm gọi điện hỏi thăm và về thăm con. Từ năm 2023 đến năm 2024 ngừng chu cấp cho con. Từ tháng 3/2023 đến nay vợ chồng xem như sống ly thân. Nay chị M xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẩn sự sự trầm trọng, nên yêu cầu được ly hôn.

Chị M và anh H có 01 con chung, tên Vũ Trần Thanh M1, sinh ngày 7/01/2022. Con sống cùng chị M. Nếu ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con một tháng 3.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh H không tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H về nội dung khởi kiện của chị M. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh H biết. Tuy nhiên, đến hôm nay anh H vẫn không có phản đối hay có kiến gì về khởi kiện của chị M.

Qua xác minh cho thấy vợ chồng chị M, anh H sống không có hạnh phúc,. Nguyên nhân là do anh H Không quan tâm con, không gửi tiền nuôi con. Ngoài ra không chịu khó lao động mà ham chơi game.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử

vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con cho nguyên đơn nuôi là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:

[1] Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Về hôn nhân: Chị M và anh H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ vào năm 2020. Trong cuộc sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Theo chị M trình bày và qua xác minh thì nguyên nhân của việc mâu thuẩn là do anh H không quan tâm gia đình, bỏ mặc vợ con; đi làm không đưa tiền về lo gia đình, mà ham chơi gmae và vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, sống ly thân hơn 01 năm nay. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về tranh chấp nuôi con: Chị M và anh H có 01 con Vũ Trần Thanh M1, sinh ngày 7/1/2022, hiện tại chưa đủ 03 tuổi. Xét thấy chị M có sức khỏe, công việc và thu nhập đảm bảo cho việc nuôi con tốt, nên giao cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6].Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Theo như chị M trình bày và qua xác minh thấy rằng: Anh H không có công việc ổn định, lao động có thu nhập thấp, nên chỉ buộc anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp.

[7] Về tài sản chung: Chị M trình bày vợ chồng không có tài sản chung và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[8] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn chịu án phí về cấp dưỡng theo quy định.

[9] Về kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, khoản 1 Điều 107, Điều 110, Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Tuyên bố: Chị Trần Thị M ly hôn anh Vũ Mạnh H.
  2. Về nuôi con: Giao cho chị Trần Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Vũ Trần Thanh M1, sinh ngày 07/01/2022. Anh Vũ Mạnh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Vũ Mạnh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Vũ Trần Thanh M1 01 tháng 2.000.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi con tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày chị Trần Thị M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Vũ Mạnh H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Phần cấp dưỡng nuôi con có hiệu lực thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị.

  1. Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004497 ngày 15/5/2024. Chị H1 đã nộp đủ án phí. Anh Vũ Mạnh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng.
  2. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (31/7/2024), bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  3. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh;

-VKSND huyện;

-CCTHADS huyện;

-Đương sự;

-Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do anh H không có nghề nghiệp, lại không chịu cùng vợ làm ăn chăm lo gia đình, mà bỏ mặc vợ con, nên chị M yêu cầu ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger