Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 91/2024/HSST

Ngày 31 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đức Lưu
  2. Bà Nguyễn Thị Thụy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TL - HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐ-TA ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với:

* Bị cáo: Phạm Thị L; sinh năm 1977; ĐKHKTT: Tổ 25 phường K, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số C ngõ A V, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Phạm Văn T; Họ và tên mẹ: Phạm Thị L1; Họ tên chồng: Nguyễn Văn S; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự: không;

Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 692/2020/HSPT ngày 12/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 6 tháng tù về tội Chứa mại dâm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Xin vắng mặt)

Anh Lưu Bình K, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ C phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. (Xin vắng mặt)

Chị Hoàng Thị Thùy H, sinh năm 1985; Địa chỉ: P G6B tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h ngày 14/01/2024, tại địa chỉ số A - G khu tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội, Phạm Thị L đã có hành vi môi giới cho Nguyễn Thị T1 bán dâm cho Lưu Bình K tại nơi kinh doanh bán nước của mình để hưởng lợi số tiền là 300.000 đồng thì bị Tổ công tác của Công an quận B phát hiện, bắt quả tang.

Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Thị L: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, đã qua sử dụng, số IMEI: 356985726556907, số SIM: 0913.372.969.

Thu giữ từ Nguyễn Thị T1: 01 chiếc điện thoại di động OPPO Reno 6 Pro 5G, đã qua sử dụng, số IMEI: 864297051267539/ 864297051267521, số SIM: 0947.765.665.

Thu giữ từ Lưu Bình K: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, đã qua sử dụng, số IMEI: 352872330805123/ 352872330524691, số SIM: 0944.126.390.

Tại cơ quan điều tra Phạm Thị L khai nhận: Tháng 06/2022, Phạm Thị L thuê căn nhà số A - G khu tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội của chị Hoàng Thị T2 H làm địa điểm kinh doanh quán trà Hoa Thảo M.

Quá trình kinh doanh, L có quen biết với chị Nguyễn Thị T1. Biết chị T1 có nhu cầu bán dâm, cộng thêm việc thu nhập từ việc kinh doanh không ổn định nên L nảy sinh ý định sử dụng quán trà của mình làm địa điểm bán dâm cho T1. Lành và T1 thỏa thuận nếu khách đến quán có nhu cầu mua dâm, L sẽ đứng ra thu tiền của khách 800.000 đồng. Sau mỗi lần bán dâm xong, L đưa cho T1 500.000 đồng tiền công bán dâm, số tiền 300.000 đồng Lành giữ lại cho mình là tiền công sử dụng phòng ngủ trong quán để thực hiện hoạt động mại dâm.

Thông qua mối quan hệ xã hội, Lưu Bình K có quen biết với Phạm Thị L. Biết được L cho hoạt động mại dâm tại quán nước, ngày 14/01/2024, K sử dụng ứng dụng Zalo nhắn tin vào tài khoản Zalo đăng ký theo số điện thoại 0913.372.xxx của L đặt vấn đề mua dâm. L đồng ý và hẹn K đến quán trà của mình để trao đổi trực tiếp. Khoảng 17h cùng ngày, K tới quán trà như đã hẹn. Tại đây, K và L thỏa thuận để K mua dâm với T1 với giá 800.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. K đồng ý sau đó chuyển khoản số tiền 850.000 đồng cho L bằng dịch vụ Internet Banking từ tài khoản Ngân hàng B số 37110000553988 mang tên chủ tài khoản Luu Binh K1 đến tài khoản Ngân hàng V số 0913372969 của L. Trong đó, 800.000 đồng là tiền mua dâm, 50.000 đồng là K trả tiền nước. Thỏa thuận xong, KT1 vào phòng ngủ bên trong quán trà của L để thực hiện hành vi giao cấu. Lành ở bên ngoài cảnh giới. Đến khoảng 17h30' cùng ngày thì hành vi vi phạm pháp luật của L, T1K bị Cơ quan CSĐT - Công an quận B phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản đưa về trụ sở Cơ quan điều tra làm rõ.

Lời khai nhận tội của Phạm Thị L phù hợp với lời khai của gái bán dâm Nguyễn Thị T1, phù hợp với lời khai của khách mua dâm Lưu Bình K, phù hợp với tin nhắn điện thoại, ứng dụng zalo, tài khoản giao dịch chuyển tiền giữa K và L và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị T1 đã phạm vào khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mức 400.000 đồng.

Đối với hành vi mua dâm của Lưu Bình K đã phạm vào khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mức 1.500.000 đồng.

Đối với chị Hoàng Thị Thùy H – chủ nhà cho L thuê nhà để kinh doanh, không biết việc KT1 có hoạt động mại dâm, không biết L đồng ý cho KT1 hoạt động mại dâm tại quán. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với điện thoại chiếc điện thoại di động OPPO Reno 6 Pro 5G, đã qua sử dụng, số IMEI: 864297051267539/ 864297051267521, số SIM: 0947.765.665 thu giữ của Nguyễn Thị T1; điện thoại di động OPPO Reno 6 Pro 5G, đã qua sử dụng, số IMEI: 864297051267539/ 864297051267521, số SIM: 0947.765.665 thu giữ của Lưu Bình K, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Nguyễn Thị T1 và anh Lưu Bình K.

Tại bản cáo trạng số 77 /CT-VKS ngày 12 tháng 04 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội Chứa mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án nhẹ nhất, cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội chứa mại dâm, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự 2015. Nhân thân bị cáo Phạm Thị L đã có 01 tiền án về tội chứa mại dâm chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 327; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 800.000 đồng thu lời bất chính.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp N sánh Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, đã qua sử dụng, số IMEI: 356985726556907, số SIM: 0913.372.969.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/01/2024, bị cáo Phạm Thị L đã có hành vi chứa mại dâm cho Nguyễn Thị T1 thực hiện hành vi bán dâm cho anh Lưu Bình K tại căn nhà số A - G khu tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội. Lành được hưởng lợi số tiền 300.000 đồng thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát hình sự Công an quận B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Phạm Thị L đã cấu thành tội «Chứa mại dâm» theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cho tệ nạn mại dâm phát triển, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, bản sắc, nếp sống văn hóa của người Việt Nam. Mại dâm còn làm tăng nguy cơ lây truyền những căn bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS... Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h (Tái phạm), khoản 1, Điều 52 BLHS.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải và khai báo thành khẩn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, cũng là thể hiện tính chất khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

[5] Lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt của các bị cáo theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp N sánh Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, đã qua sử dụng, số IMEI: 356985726556907, số SIM: 0913.372.969

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 800.000 đồng thu lời bất chính.

Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 327, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Chứa mại dâm”.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 16 ( Mười sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024 đến ngày 05/02/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu nộp N sánh Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, đã qua sử dụng, số IMEI: 356985726556907 số SIM: 0913.372.969. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 134 ngày 25/04/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 800.000 đồng thu lời bất chính.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - UBND phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - tội chứa mại dâm

  • Số bản án: 91/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger