Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Tấn Chương

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Hoàng C, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 257 Ụ C, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sửa xe; Học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn B (Chết); con bà: Trần Thị C1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/01/2008 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 08/4/2010 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã thi hành xong bản án); Ngày 24/12/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 08/11/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 09/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo kháng cáo, đến ngày 01/8/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, đến ngày 01/8/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1973; Nơi cư trú: F V, Phường

A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phan Thanh S, sinh năm 1974; Nơi thường trú: Lô A H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bà Phạm Hoa M, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 18/9/2023, Ngô Hoàng C thuê tài xế xe ôm tên Trần Văn G chở từ Quận H sang Quận E để C đi tìm nhà có tài sản sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi ông G chở C đến trước nhà F V, Phường A, Quận E thì C yêu cầu ông G dừng xe cho C xuống. Chương trả cho G 60.000 đồng. Sau đó ông G điều khiển xe đi về, không biết C đi trộm cắp tài sản. Lúc này, C một mình đi vào trước nhà F V, Phường A, Quận E. Khi đến cổng rào nhà 626, C dùng hai tay nâng hàng rào trước cửa cổng lên rồi đi vào bên trong, C phát hiện có đầu búa và xà beng để trước nhà nên sử dụng cạy phá ổ khóa rồi đi vào bên trong nhà thì thấy bà Nguyễn Thị Kim D đang nằm ngủ. Chương mở ngăn kéo tủ ra thì thấy các tài sản gồm: 01 nhẫn hột xoàn; 01 dây chuyền vàng 18K; 01 nhẫn vàng 18K; 01 nhẫn vàng nhỏ 18K; 01 điện thoại di động Iphone XS, màu vàng và số tiền 5.000.000 đồng nên lấy tất cả bỏ vào túi quần thì lúc này bà D thức dậy phát hiện tri hô nên C chạy bộ tẩu thoát ra cầu C rồi đón tài xế xe ôm (không rõ lai lịch) về Quận H. Sáng ngày 19/9/2023, C đã bán 03 nhẫn và điện thoại cho các đối tượng ở Quận H (không rõ lai lịch) được 5.000.000 đồng còn dây chuyền vàng 18K Chương mang đến tiệm vàng “Minh Mạnh” (địa chỉ: Lô A H, Phường A, Quận H) do Phan Thanh S làm chủ để cầm cố với giá 13.000.000 đồng, cụ thể ngày 19/9/2023 cầm cố 5.000.000 đồng và ngày 20/9/2023 cầm cố 8.000.000 đồng. Ông S không biết tài sản trên là do C trộm cắp mà có. Đối với số tiền thu lợi được từ việc trộm cắp tài sản C đã tiêu xài cá nhân hết. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q mời Ngô Hoàng C đến làm việc. Đến khoảng 06 giờ 45 phút ngày 18/9/2023, bà Nguyễn Thị Kim D đến Công an P, Quận E trình báo. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) dây chuyền bằng vàng loại 18K, trọng lượng 6,95 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 1,67 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 0,9 chỉ; 01 (một) nhẫn hột xoàn; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS-64GB, màu vàng, đã qua sử dụng; số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); 01 (một) xe gắn máy Surika màu đen, biển số 60V7-4666, số khung: RRSWCH7RS61004840, số máy: RRSSV152FMH0004840; 01 (một) xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 (một) đầu búa bằng kim loại dài khoảng 15cm; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 20cm; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại bị bẻ cong, trên thân khóa có ký hiệu “M”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ xoosee.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận:

  • 01 (một) dây chuyền bằng vàng loại 18K, trọng lượng 6,95 chỉ (dây chuyền 5,75 chỉ và mặt phật 1,2 chỉ) trị giá 28.584.655 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi lăm đồng);
  • 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 1,67 chỉ trị giá 6.868.543 đồng (sáu triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng);
  • 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 0,9 chỉ trị giá 3.701.610 đồng (ba triệu bảy trăm lẻ một nghìn sáu trăm mười đồng);
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS-64GB, màu vàng, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tổng cộng: 41.654.808 đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm lẻ tám đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận: 01 (một) nhẫn hột xoàn đã qua sử dụng trị giá 34.550.000 đồng (ba mươi bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thị Kim D yêu cầu bị cáo Ngô Hoàng C bồi thường thiệt hại với số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), nhưng tại phiên tòa bị hại Nguyễn Thị Kim D yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Ông Phan Thanh S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Hoàng C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Hoàng C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Hoàng C với mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim D yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 60.000.000 đồng và bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận; ông Phan Thanh S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Thị Kim D không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Ngô Hoàng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Ngô Hoàng C đã có hành vi đột nhập vào nhà F V, Phường A, Quận E lén lút chiếm đoạt 01 (một) dây chuyền bằng vàng loại 18K, trọng lượng 6,95 chỉ (dây chuyền 5,75 chỉ và mặt phật 1,2 chỉ) trị giá 28.584.655 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi lăm đồng); 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 1,67 chỉ trị giá 6.868.543 đồng (sáu triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng); 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 0,9 chỉ trị giá 3.701.610 đồng (ba triệu bảy trăm lẻ một nghìn sáu trăm mười đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS-64GB, màu vàng, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) nhẫn hột xoàn đã qua sử dụng trị giá 34.550.000 đồng (ba mươi bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) của bà Nguyễn Thị Kim D. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo C đã chiếm đoạt là 81.204.808 đồng (tám mươi mốt triệu hai trăm lẻ bốn nghìn tám trăm lẻ tám đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Ngô Hoàng C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng khi chấp hành xong hình phạt bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, các lần xét xử trước đây đã áp dụng hình phạt đối với bị cáo nhưng chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội nhưng khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[8] Đối với ông Trần Văn G là tài xế xe ôm chở Ngô Hoàng C từ Quận H sang Quận E; C đi đến nhà F V, Phường A, Quận E trộm cắp tài sản, ông G không biết và không có liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với ông G là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với ông Phan Thanh S chủ tiệm vàng “Minh Mạnh”, ông S có nhận cầm cố của bị cáo C 01 dây chuyền vàng 18K với giá 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng), ông S không biết tài sản trên là do C trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xử lý đối với ông S về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp với quy định pháp luật.

[9] Về vật chứng:

Xét 01 (một) dây chuyền bằng vàng loại 18K, trọng lượng 6,95 chỉ là tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Kim D, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bà D nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 1,67 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng loại 18K, trọng lượng 0,9 chỉ; 01 (một) nhẫn hột xoàn; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS-64GB, màu vàng, đã qua sử dụng; số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) là tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Kim D, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 (một) xe gắn máy Surika màu đen, biển số 60V7-4666, số khung: RRSWCH7RS61004840, số máy: RRSSV152FMH0004840 do bà Phạm Hoa M đứng tên chủ sở hữu, hiện nay bà M đi đâu không rõ, bị cáo C khai mượn của người bạn không rõ lai lịch. Xét chiếc xe bị cáo có được không rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời gian nhất định không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Xét 01 (một) xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 (một) đầu búa bằng kim loại dài khoảng 15cm; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 20cm; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại bị bẻ cong, trên thân khóa có ký hiệu “M”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ xoosee là các đồ vật, dụng cụ cá nhân của bà Nguyễn Thị Kim D và bà D không có yêu cầu gì đối với các đồ vật nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Nguyễn Thị Kim D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), tại phiên tòa, bị cáo C đồng ý bồi thường cho bà D với số tiền nêu trên, Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Ông Phan Thanh S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng). tại phiên tòa, bị cáo C đồng ý bồi thường cho ông S với số tiền nêu trên, Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông S và bị cáo, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng C 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Ngô Hoàng C bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị Kim D với số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Buộc bị cáo Ngô Hoàng C bồi thường thiệt hại cho ông Phan Thanh S với số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Nguyễn Thị Kim D, ông Phan Thanh S có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền mà bị cáo phải chịu bồi thường.

Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 (một) đầu búa bằng kim loại dài khoảng 15cm; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 20cm; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại bị bẻ cong, trên thân khóa có ký hiệu “M”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ xoosee.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe gắn máy Surika màu đen, biển số 60V7-4666, số khung RRSWCH7R S61004840 (bị đục số), số máy: RRSSV152FMH0004840 trong thời gian 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.650.000 đồng (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06-Công an TpHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Hoàng C-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger