TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-PT Ngày 29-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Văn Chắt
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga; bà Thái Thị Hồng Vân
Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc - Thẩm tra viên, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân Dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2024, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLPT-HS ngày 11/6/2024 đối với bị cáo Thái Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Toà án Nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Thái Văn N; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20 tháng 8 năm 1997 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Thái Văn N1, sinh năm 1970 và con bà: Hồ Thị H1, sinh năm 1969; vợ: Hồ Thị Thanh L, sinh ngày 13/8/2001; con: Có 03 người, con lớn nhất, sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Bị hại không có kháng cáo: Chị Hồ Thị Thanh L, sinh ngày 13/8/2001.
Nơi cư trú: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên toà..
- Ngoài ra còn có 03 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng thời gian từ giữa năm 2016 đến đầu năm 2017, Hồ Thị Thanh L, sinh ngày 13/8/2001 đi chơi ở sự kiện Đại hội giới trẻ giáo xứ T diễn ra tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ an thì Hồ Thị Thanh L có gặp gỡ, quen biết với Ngô Văn D và Hồ Văn Đ. Trong thời gian quen biết với D và Đ thì Hồ Thị Thanh L bắt đầu có nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương với Ngô Văn D khoảng 01- 02 tháng thì hai người chia tay. Sau đó, Hồ Thị Thanh L tiếp tục có quan hệ tình cảm yêu đương với Hồ Văn Đ khoảng 02 - 03 tháng thì cũng chia tay. Trong khoảng thời gian có quan hệ tình cảm yêu đương với Ngô Văn D và Hồ Văn Đ thì L không phát sinh quan hệ tình dục với hai người này. Đến khoảng tháng 01/2017, Hồ Thị Thanh L và Thái Văn N bắt đầu quen biết với nhau, sau một thời gian Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L gặp gỡ, đi chơi với nhau nhiều lần thì hai người nảy sinh tình cảm yêu đương. Đến buổi tối một ngày vào khoảng tháng 3/2017, khi đó Thái Văn N rủ Hồ Thị Thanh L đi xuống bãi biển gần khu vực đền Q thuộc thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để đi chơi thì Hồ Thị Thanh L đồng ý. Khi xuống đến nơi thì hai người ngồi ở ngoài bãi biển nói chuyện. Tại đây, cả Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L thấy địa điểm mà hai người ngồi nói chuyện tâm sự là nơi vắng vẻ, ít người qua lại nên đã nảy sinh ý định quan hệ tình dục với nhau. Thái Văn N biết Hồ Thị Thanh L đang đi học tại trường THPT Q1, còn nhỏ tuổi, tuy nhiên khi N và L ngồi ôm hôn nhau thì cả hai không kiềm chế được cảm xúc của bản thân nên Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L đã tự mình cởi bỏ quần áo trên người ra để cho Thái Văn N thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Quá trình quan hệ tình dục cả N và L không sử dụng bao cao su hay biện pháp tránh thai nào cả. Sau khi quan hệ tình dục với nhau, Thái Văn N lấy xe chở Hồ Thị Thanh L đi về nhà. Sau đó, Thái Văn N đi ra thành phố Hà Nội làm thuê nên cả hai không phát sinh lần quan hệ tình dục nào khác nữa nhưng cả hai người vẫn duy trì mối quan hệ yêu đương với nhau.
Đến khoảng tháng 7/2017, chị Nguyễn Thị C phát hiện con đẻ của mình là Hồ Thị Thanh L có thai, nên chị C hỏi Hồ Thị Thanh L quan hệ tình dục với người nào dẫn đến có thai thì Hồ Thị Thanh L sợ không có ai chịu trách nhiệm đối với mình nên kể cho chị C biết là trước đây L đã quan hệ tình dục với Ngô Văn D, Hồ Văn Đ và sau cùng là Thái Văn N. Sau đó, gia đình chị Nguyễn Thị C đến gặp bố mẹ đẻ của Thái Văn N để yêu cầu gia đình tổ chức đám cưới cho Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L. Tuy nhiên, lúc này bố mẹ đẻ của Thái Văn N chưa biết rõ Hồ Thị Thanh L mang thai con của ai nên chưa đồng ý. Đến ngày 30/11/2017, Hồ Thị Thanh L sinh con gái tại Trạm y tế xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Đến ngày 04/12/2017, chị Nguyễn Thị C làm đơn tố giác đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An với nội dung: Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, con gái của chị Nguyễn Thị C là Hồ Thị Thanh L có quan hệ yêu đương và quan hệ tình dục với 03 người nam giới. Cụ thể: Từ khoảng tháng 6, tháng 7 đến cuối năm 2016, Hồ Thị Thanh L có quan hệ yêu đương và quan hệ tình dục với Ngô Văn D và Hồ Văn Đ. Đến khoảng đầu năm 2017, Hồ Thị Thanh L tiếp tục yêu đương và có quan hệ tình dục với Thái Văn N. Hậu quả Hồ Thị Thanh L có thai và đã sinh con.
Sau khi tiếp nhận đơn tố giác của chị Nguyễn Thị C, ngày 06/12/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ an đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
Sau khi Hồ Thị Thanh L sinh con, Thái Văn N biết là con đẻ của mình nên Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L đặt tên con là Thái Hồ Khánh V (sinh ngày 30/11/2017). Đến khoảng tháng 11/2018, gia đình hai bên tổ chức lễ đám cưới cho Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L. Ngày 16/8/2019, Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L đi đến UBND xã Q đăng ký kết hôn. Sau đó, Thái Văn N tiếp tục đi làm thuê tại thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn Thái Văn N và Hồ Thị Thanh L có thêm 02 (hai) người con nữa (Thái Vũ Tuấn K, sinh ngày 02/3/2020 và Thái Đình Anh D1, sinh ngày 19/10/2023).
Ngày 04/12/2023, Thái Văn N biết Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q triệu tập để làm việc nên Thái Văn N nhận thức rõ hành vi quan hệ tình dục với Hồ Thị Thanh L vào năm 2017, khi L chưa đủ 16 tuổi dẫn đến có thai là vi phạm pháp luật. Sau đó, Thái Văn N đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Ngày 04, 05/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q thành lập Hội đồng lấy mẫu sinh học (Mẫu tóc) của Hồ Thị Thanh L (ký hiệu M1), Thái Văn N (M), Thái Hồ Khánh V (M3) và Hồ Văn Đ (M4) để trưng cầu giám định Gen (ADN) xác định Thái Hồ Khánh V có phải con đẻ của Hồ Thị Thanh L và Thái Văn N không? Thái Hồ Khánh V có phải con đẻ của Hồ Văn Đ không?.
Tại Bản kết luận giám định số 4575/KL - KTHS, ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với việc giám định G (ADN) theo Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An kết luận như sau:
- Cháu Thái Hồ Khánh V là con đẻ của Hồ Thị Thanh L;
- Cháu Thái Hồ Khánh V là con đẻ của Thái Văn N, xác suất 99,99999986%;
- Cháu Thái Hồ Khánh V không phải là con đẻ của Hồ Văn Đ.
4. Lưu kiểu G (theo hệ Gloobalfiler) của Thái Hồ Khánh V, Hồ Thị Thanh L, Thái Văn N, Hồ Văn Đ tại phòng K1, Công an tỉnh T.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An quyết định:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Thái Văn N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07/5/2024, bị cáo Thái Văn N làm đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo Thái Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Văn N; sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Thái Văn N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo không có tranh luận chỉ đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Thái Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên có căn cứ khẳng định: Vào khoảng tháng 3/2017, Thái Văn N đã có hành vi giao cấu với Hồ Thị Thanh L, sinh ngày 13/8/2001 dẫn đến có thai, đến ngày 30/11/2017 chị L đã sinh con đặt tên là Thái Hồ Khánh V. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em và người chưa thành niên, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt Nam. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xử phạt bị cáo Thái Văn N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành phạm tội của mình, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới là: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Linh mục quản xứ Phaolô Trương Đình V1 đề ngày 15/7/2024 có nội dung xin cho bị cáo được hưởng án treo để ở nhà chăm sóc vợ con và bố mẹ già; tại phiên toà bị hại tiếp tục xin cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện ở nhà chăm sóc gia đình. Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị hại trong vụ án hiện đang là vợ của bị cáo, giữa bị cáo và chị Hồ Thị Thanh L đã có với nhau 03 người con; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Có đủ căn cứ để cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Do đó, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt cho bị cáo Thái Văn N hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Thái Văn N được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Văn N, sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Thái Văn N 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Thái Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 về án phí, lệ phí; bị cáo Thái Văn N không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Nguyễn Thị Thanh Nga – Thái Thị Hồng Vân | Vi Văn Chắt |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Vi Văn Chắt |
Bản án số 91/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 91/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, cho hưởng án treo
